Làng rèn Việt
Làng rèn Việt Nam: bức tranh chung các làng rèn theo từng vùng miền
Làng rèn Việt trải từ Phúc Sen (Cao Bằng), Đa Sỹ (Hà Nội), Vân Chàng (Ninh Bình) tới lò rèn chợ quê miền Trung, Nam Bộ; mỗi vùng rèn thứ đất đai ở đó cần.
Wiki · chetac.com
Cẩm nang chế tác thủ công và làng nghề Việt: rèn dao và nhiệt luyện thép, làng gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, đất – men – lò nung, đúc đồng Đại Bái, Phước Kiều, Ý Yên, vàng bạc kim hoàn, dệt lụa và thổ cẩm, đan lát mây tre cói, tổ nghề và an toàn khi tập làm thủ công.
Làng rèn Việt
Làng rèn Việt trải từ Phúc Sen (Cao Bằng), Đa Sỹ (Hà Nội), Vân Chàng (Ninh Bình) tới lò rèn chợ quê miền Trung, Nam Bộ; mỗi vùng rèn thứ đất đai ở đó cần.
Làng rèn Việt
Phúc Sen (Cao Bằng) là làng rèn của người Nùng An, rèn dao bằng tay theo nhóm từ thép nhíp, trui lưỡi trong nước; nghề đã vào Danh mục di sản phi vật thể quốc g
Làng rèn Việt
Đa Sỹ ở khu Hà Đông, Hà Nội là làng rèn chuyên dao bếp, dao chặt và kéo, sớm dùng búa máy; cái khó nhất là chiếc kéo với hai lưỡi hơi cong gặp nhau ở một điểm.
Làng rèn Việt
Vân Chàng (đất Nam Định cũ, nay thuộc Ninh Bình) nổi tiếng với cuốc, mai, liềm cho vùng lúa đồng bằng, rồi chuyển dần từ lò rèn tay sang xưởng cơ khí nhỏ.
Làng rèn Việt
Lò rèn truyền thống gồm bếp than nung thép, bễ thổi gió, đe nặng làm mặt đập, búa tạo hình và kìm giữ phôi; mỗi thứ có lý do vật lý quyết định cách thợ làm.
Làng rèn Việt
Một con dao rèn qua khoảng mười bước: chọn thép, cắt phôi, vuốt chuôi, dàn bản, thường hoá, mài thô, trui, nắn, ram, mài tinh, tra cán; nhiệt quyết định độ bền.
Làng rèn Việt
Rèn tay và rèn búa máy cùng đập thép nóng, khác ở tốc độ, độ đều và số lần nung; độ cứng dao vẫn do thép, trui và ram quyết định, khác hẳn dao dập từ thép tấm.
Làng rèn Việt
Làng rèn Việt trải từ Phúc Sen (Cao Bằng), Đa Sỹ (Hà Nội), Vân Chàng (Ninh Bình) tới lò rèn chợ quê miền Trung, Nam Bộ; mỗi vùng rèn thứ đất đai ở đó cần.
Làng rèn Việt
Phúc Sen (Cao Bằng) là làng rèn của người Nùng An, rèn dao bằng tay theo nhóm từ thép nhíp, trui lưỡi trong nước; nghề đã vào Danh mục di sản phi vật thể quốc g
Làng rèn Việt
Đa Sỹ ở khu Hà Đông, Hà Nội là làng rèn chuyên dao bếp, dao chặt và kéo, sớm dùng búa máy; cái khó nhất là chiếc kéo với hai lưỡi hơi cong gặp nhau ở một điểm.
Thép, nhiệt luyện & dao
Thép là sắt pha một ít carbon, thường dưới khoảng 2%. Carbon chen vào mạng sắt cản các lớp nguyên tử trượt, nên thép cứng hơn sắt; nhiệt luyện còn đổi được độ c
Thép, nhiệt luyện & dao
Trong chỗ tối, thép đỏ sẫm khoảng 600–700°C, đỏ anh đào 750–850°C, cam 900–1.000°C, vàng khoảng 1.100°C, trắng trên 1.200°C. Ngoài nắng thép trông tối hơn thật.
Thép, nhiệt luyện & dao
Trui là nung thép rồi làm nguội thật nhanh để thép cứng lên. Nước nguội nhanh, cứng mạnh nhưng dễ nứt, cong; dầu êm hơn, hợp lưỡi mỏng và thép hợp kim.
Làng gốm Việt
Làng gốm Việt chia ba vùng: Bắc mạnh gốm men và sành, Trung giữ đất nung và gốm Chăm nặn tay, Nam Bộ có men màu, lò rồng và gạch gốm đỏ ven sông.
Làng gốm Việt
Bát Tràng (Hà Nội) vẫn sản xuất thật: xưởng đổ khuôn, vuốt, tráng men, phần lớn nung lò ga thay lò than. Bài chỉ cách xem xưởng, đọc men và hỏi gì khi mua.
Làng gốm Việt
Gốm Chu Đậu được nhận diện lại nhờ chiếc bình ghi năm 1450 ở Bảo tàng Topkapı, khảo cổ tại làng từ thập niên 1980 và tàu đắm Cù Lao Chàm khai quật cuối thập niê
Đất, men & lò nung
Đất nung nung dưới khoảng 1.000°C, xương xốp; sành khoảng 1.100–1.250°C, xương kết khối; sứ dùng cao lanh, nung khoảng 1.250–1.400°C, trắng và thấu sáng.
Đất, men & lò nung
Đất sét gồm khoáng dạng phiến cực mịn; nước len giữa các phiến nên đất dẻo và giữ hình. Cao lanh trắng, chịu nhiệt cao nhưng kém dẻo; đất thó dẻo dùng để tạo hì
Đất, men & lò nung
Vuốt gốm gồm ba bước: định tâm khối đất quay đều quanh trục, mở lòng tạo đáy, kéo thành dồn đất lên cao và mỏng dần. Đất lệch tâm thì mọi bước sau đều hỏng.
Đúc đồng
Đồng chảy ở khoảng 1.085°C, lò than có bễ đạt được, lại ít gỉ và nấu lại được. Pha thiếc thành đồng thiếc, pha kẽm thành đồng thau để dễ đúc, cứng và vang hơn.
Đúc đồng
Khuôn đất ghép hợp với chuông, đỉnh; khuôn sáp cho chi tiết tinh nhất nhưng chỉ dùng một lần; khuôn cát nhanh, lặp lại được. Khuôn quyết định gần hết chất lượng
Đúc đồng
Ngũ Xã ven hồ Trúc Bạch do thợ năm làng vùng Văn Lâm xưa lập nên. Làng nổi tiếng với tượng lớn như tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh đúc năm 1677 và tượng chùa Thần
Gò đồng, vàng bạc & kim hoàn
Gò đồng là đập tấm đồng nguội trên đe thành mâm, nồi, tranh nổi. Ở Đại Bái, Bắc Ninh, thợ đập cho đồng cứng lên, ủ cho mềm lại rồi gò tiếp, lặp nhiều vòng.
Gò đồng, vàng bạc & kim hoàn
Đúc là rót đồng lỏng vào khuôn, ra đồ dày, nặng như tượng, chuông. Gò là đập tấm đồng nguội, ra đồ mỏng, nhẹ như mâm, nồi. Bài chỉ cách nhìn dấu vết để phân biệ
Gò đồng, vàng bạc & kim hoàn
Châu Khê (Hải Dương cũ, nay thuộc TP Hải Phòng) được coi là đất tổ nghề đúc bạc. Theo truyền thống, thợ làng lên kinh đúc bạc nén, góp phần làm nên phố Hàng Bạc
Dệt lụa & thổ cẩm
Ươm tơ là nấu kén trong nước nóng cho keo sericin mềm, tìm mối rồi gộp sợi nhiều kén thành một sợi tơ. Quay tơ cuộn sợi ấy lên guồng; chuội rửa keo cho tơ mềm ó
Dệt lụa & thổ cẩm
Khung cửi giữ căng sợi dọc; go nâng hạ từng nhóm sợi để mở miệng vải, thoi đưa sợi ngang qua, lược dập chặt. Cách go nâng sợi quyết định kiểu dệt trơn, chéo hay
Dệt lụa & thổ cẩm
Vạn Phúc là làng dệt bên sông Nhuệ ở Hà Nội, nổi tiếng với lụa vân có hoa chìm cùng màu tạo bằng hai kiểu dệt. Phố lụa bán cả hàng làng lẫn vải pha, cần biết cá
Mây tre, cói & nón
Đan lát Việt dùng sáu vật liệu chính: tre cứng, nứa nhẹ, mây dẻo dai, giang dài gióng, cói và lục bình là thân cỏ mềm. Thợ chọn vật liệu theo việc rồi mới chọn
Mây tre, cói & nón
Nan tre bền hay mục được quyết định trước khi đan: chọn tre già, chặt mùa khô, ngâm cho trôi tinh bột, luộc nan, phơi hoặc hun khói. Mọt và mốc sống nhờ tinh bộ
Mây tre, cói & nón
Phú Vinh ở vùng Chương Mỹ, Hà Nội nổi tiếng với lối đan nan nhỏ: mây, giang chẻ và chuốt rất mảnh, đan khít như một bề mặt liền, đủ tinh để bọc lọ, làm hộp và đ
Tổ nghề & lệ làng nghề
Tổ nghề là người được làng tôn làm thầy khai nghề. Thờ tổ vừa để tri ân, vừa giữ bí quyết và lệ phường; phần lớn chuyện tổ nghề là truyền thuyết, thần phả.
Tổ nghề & lệ làng nghề
Bát Tràng giữ hai dòng truyền thuyết tổ nghề: Hứa Vĩnh Kiều đi sứ học nghề, và người Bồ Bát di cư ra sông Hồng. Đối chiếu với nghiên cứu của Phan Huy Lê.
Tổ nghề & lệ làng nghề
Nguyễn Minh Không là thiền sư thời Lý được phong quốc sư năm 1136, được nhiều làng đúc thờ làm tổ nghề. Tách phần sử với phần truyền thuyết túi đồng, tứ đại khí
Tập làm thủ công an toàn
Người mới nên chọn nghề theo chỗ ở, nhu cầu lửa và kiểu việc hợp tay: đan, dệt, nặn đất tự khô tập ở nhà; gốm nung, rèn học ở xưởng có người hướng dẫn.
Tập làm thủ công an toàn
Một buổi lớp gốm trải nghiệm gồm giới thiệu đất và an toàn, nhồi đất, định tâm, kéo thành hoặc nặn tay, trang trí; sản phẩm còn phải phơi, nung nên nhận sau.
Tập làm thủ công an toàn
Đất tự khô không cần lò nhưng giòn, sợ nước; đất polymer nướng lò gia dụng ở nhiệt độ thấp, cần thông gió; đất sét nung bền nhất nhưng phải có lò nhiệt độ cao.