Ươm tơ là thả kén tằm vào nồi nước nóng cho lớp keo trên sợi mềm ra, tìm đầu mối rồi gộp sợi của nhiều kén thành một sợi tơ đủ to để dệt. Quay tơ là bước kéo sợi gộp ấy lên guồng, cuộn thành con tơ. Cả hai bước là một bài toán về protein và nước nóng: keo tơ phải mềm vừa đủ để sợi nhả ra trơn, nhưng không mềm tới mức sợi đứt hay dính bết vào nhau.
Trong một cái kén có gì
Kén tằm dâu là một sợi liên tục, con tằm nhả ra và quấn quanh mình theo hình số tám trong vài ngày trước khi hoá nhộng. Chiều dài sợi khác nhau theo giống tằm và theo kén, thường từ vài trăm mét tới hơn một nghìn mét, nhưng phần kéo được liền mạch thì ngắn hơn, vì lớp ngoài cùng rối và lớp trong sát nhộng quá mảnh.
Soi kỹ, mỗi sợi gồm hai lõi protein tên là fibroin, nằm song song, bọc ngoài bằng một lớp keo cũng là protein, gọi là sericin. Fibroin là phần bền, bóng, tạo nên lụa. Sericin là phần keo, chiếm khoảng một phần năm tới gần một phần ba khối lượng kén tuỳ giống. Toàn bộ kỹ thuật ươm tơ xoay quanh lớp keo này: nó giữ kén thành hình, nó làm sợi cứng và ráp, nhưng khi gặp nước nóng nó mềm ra, và chính nó dán nhiều sợi đơn lại thành một sợi tơ.
Bài này bắt đầu từ lúc kén đã thu hoạch. Chuyện con tằm từ trứng tới lúc làm kén thuộc về sinh học, không bàn ở đây.
Chọn kén: bước người ngoài hay bỏ qua
Người thợ ươm không đổ cả mẻ kén vào nồi. Kén được lựa ra thành mấy loại, vì mỗi loại cho sợi khác nhau:
- Kén tốt: chắc, tròn đều, vỏ dày, không vết bẩn. Đây là kén ươm tơ mặt, sợi mịn để dệt lụa.
- Kén đôi: hai con tằm cùng làm chung một kén, sợi của hai con đan vào nhau nên không kéo được một mối trơn. Kén đôi cho sợi to, không đều, là nguồn của tơ đũi.
- Kén thủng, kén mỏng, kén bẩn: nhộng đã cắn thủng, hoặc tằm bệnh để lại vết. Sợi bị cắt khúc, không ươm thành tơ dài được; loại này đem chuội, đánh tơi rồi kéo thành sợi xe như kéo sợi bông.
Lý do của việc chọn rất đơn giản: trong nồi ươm, một kén đứt mối liên tục thì người thợ phải dừng tay nối lại, sợi gộp chỗ to chỗ nhỏ, tấm lụa dệt ra sẽ có vệt. Kén đều tay thì tơ đều.
Nồi ươm: vì sao phải là nước nóng
Ở các làng ươm tơ thủ công vùng đồng bằng Bắc Bộ, như Cổ Chất (Nam Định cũ, nay thuộc Ninh Bình), một chỗ ươm gồm bếp, một nồi hay chậu nước nóng, và chiếc guồng gỗ đặt ngay cạnh. Kén thả vào nồi, sericin hút nước và mềm dần. Nước phải nóng gần sôi để keo mềm nhanh, nhưng người ươm canh lửa liên tục: nước quá nóng sôi sùng sục thì kén lăn lộn, sợi rối; nước nguội thì keo cứng lại, sợi kéo không ra, đứt.
Nhiệt trong nồi cũng làm nhộng chết. Đây là phần không ai thích nói tới, nhưng là thật: nếu để nhộng sống, nó sẽ hoá ngài và cắn thủng kén, cắt sợi thành trăm khúc. Vì vậy kén thu về phải ươm sớm hoặc được sấy, hấp để diệt nhộng trước khi trữ. Nhộng tằm vớt ra sau mẻ ươm từ lâu là món ăn quen ở nhiều vùng quê.
Tìm mối tơ
Khi kén đã mềm, người thợ dùng một nắm que nhỏ, chổi rơm hoặc đũa, khuấy nhẹ trên mặt nồi. Các đầu sợi ngoài cùng vướng vào que và bị kéo ra thành một chùm xơ rối. Người thợ rút bỏ phần rối ấy cho tới khi mỗi kén chỉ còn một mối sợi sạch chạy liền. Thao tác này nhanh tới mức người đứng xem khó thấy tay làm gì; nó dựa hoàn toàn vào cảm giác của ngón tay khi sợi bắt đầu nhả đều.
Gộp sợi: con số kén quyết định độ to của tơ
Một sợi đơn từ một kén quá mảnh để dệt. Người thợ gộp mối của nhiều kén lại, thường từ vài kén tới hơn chục kén, rồi cho chùm sợi đi qua một lỗ nhỏ hay một móc dẫn. Khi đi lên khỏi mặt nước, sericin còn ướt dán các sợi đơn lại, khô đi thành một sợi tơ.
Muốn tơ mảnh thì gộp ít kén, muốn tơ to thì gộp nhiều. Cái khó là giữ con số này không đổi: một kén hết sợi hoặc đứt, người thợ phải thả ngay một mối mới vào cho đủ số. Thợ ươm giỏi nhìn độ to của sợi đang chạy mà biết vừa có một kén rơi khỏi chùm. Sợi đều hay không quyết định mặt lụa sau này phẳng hay có vệt ngang.
Quay tơ: guồng, xa và con tơ
Sợi tơ vừa gộp được kéo lên chiếc guồng quay, quấn thành một vòng lớn gọi là con tơ. Guồng phải chạy đều. Quay quá nhanh, sợi căng và đứt; quá chậm, sợi chưa kịp ráo keo sẽ dính các vòng vào nhau thành mảng, sau gỡ không ra. Nhiều nơi bố trí cho sợi đi một đoạn trong không khí, có khi qua một móc chéo để sợi tự xoắn nhẹ và ép nước ra, trước khi lên guồng.
Con tơ ươm xong được phơi hong cho ráo, rồi đánh lại sang ống hay suốt cho đúng việc ở khung cửi: sợi dọc cuộn thành trục, sợi ngang cuốn vào suốt để lắp vào thoi. Ở bước này, người thợ có thể se thêm, tức là xoắn hai hay nhiều sợi tơ với nhau. Tơ se nhiều vòng cho vải cứng, sần, như nền của loại vải nhiễu; tơ se ít cho mặt lụa mềm, bóng.
Tơ sống và tơ chín: bước chuội
Tơ vừa ươm vẫn còn nguyên phần lớn sericin, nên sờ thấy ráp, cứng, màu ngà hay vàng tuỳ giống tằm. Đây là tơ sống. Muốn tơ mềm và bóng, người ta luộc tơ (hoặc luộc vải đã dệt) trong nước có chất kiềm nhẹ hay xà phòng để rửa trôi keo. Bước này gọi là chuội. Sau khi chuội, tơ nhẹ đi đáng kể, đúng bằng phần keo đã mất, và lớp fibroin bên trong lộ ra cái ánh óng đặc trưng của lụa.
Chuội trước rồi dệt, hay dệt rồi mới chuội, mỗi làng có cách riêng. Dệt bằng tơ sống thì sợi cứng, dễ luồn, ít xơ, nhưng tấm vải sau đó phải chuội cả tấm. Chuội trước thì sợi mềm, dễ đứt khi dệt. Một số loại vải truyền thống cố ý giữ lại một phần keo để tấm vải đứng dáng, như các loại the mỏng dùng may áo.
| Bước | Mục đích | Hỏng thì ra sao |
|---|---|---|
| Chọn kén | Tách kén ươm tơ mặt, kén đôi, kén thủng | Sợi đứt liên tục, tơ chỗ to chỗ nhỏ |
| Nấu kén | Làm mềm sericin | Nước nguội: sợi đứt; nước sôi mạnh: sợi rối |
| Tìm mối | Mỗi kén một đầu sợi sạch | Xơ rối lẫn vào tơ, mặt lụa có bụi xơ |
| Gộp sợi | Đủ số kén cho độ to tơ cần | Thiếu kén: tơ mảnh từng đoạn, lụa có vệt |
| Quay lên guồng | Cuộn tơ, cho keo khô | Quay ẩu: vòng tơ dính bết, khó gỡ |
| Chuội | Rửa keo, tơ mềm bóng | Chuội quá tay: tơ yếu, xơ; chuội thiếu: vải cứng ráp |
Phần thừa không bỏ đi
Nghề ươm không bỏ gì. Lớp xơ rối gạt ra khi tìm mối, lớp sợi trong cùng sát nhộng, kén thủng, kén đôi, tất cả được gom lại. Kén đôi cho sợi to, không đều, dệt thành đũi với mặt vải sần đặc trưng. Xơ vụn và kén hỏng đem chuội, đánh tơi rồi xe thành sợi như xe bông, gọi chung là tơ vụn hay tơ kéo. Vải dệt từ loại sợi này kém bóng nhưng ấm, mặt có những gợn nhỏ. Hiểu điều này giúp người mua đỡ thất vọng: mặt sần, có cục nhỏ ở đũi là đặc tính của nguyên liệu, không phải lỗi dệt.
Ươm tay và ươm máy hôm nay
Ươm thủ công chậm và phụ thuộc vào tay người. Các xưởng ươm tơ tự động, ở những vùng trồng dâu nuôi tằm lớn như Lâm Đồng, làm cùng những bước ấy bằng máy: nồi nấu kén giữ nhiệt ổn định, cơ cấu tự tìm mối, cảm biến đo độ to sợi và tự thả kén mới khi sợi mảnh đi. Tơ máy đều hơn hẳn, hợp với vải dệt công nghiệp. Tơ ươm tay có độ không đều nhẹ mà một số người dệt và người mặc lại ưa, vì mặt vải có chiều sâu.
Ở nhiều làng dệt miền Bắc, việc ươm tơ và việc dệt đã tách ra từ lâu: làng dệt mua tơ, ít khi tự ươm. Đi xem làng dệt mà muốn thấy cả bước ươm thì nên hỏi trước, vì không phải làng nào cũng còn bếp ươm.
Đi xem ươm tơ: nhìn gì, hỏi gì
- Nhìn tay người thợ khi thả mối mới vào chùm: đó là động tác quyết định độ đều của tơ.
- Hỏi mỗi sợi tơ đang ươm gộp bao nhiêu kén, và sợi đó dùng làm sợi dọc hay sợi ngang.
- Sờ thử một con tơ sống và một mẫu tơ đã chuội để cảm nhận lớp keo sericin khác nhau thế nào.
- Đứng xa bếp và nồi nước nóng, nhất là khi đi cùng trẻ em: nước gần sôi và hơi nóng có thể gây bỏng. Bỏng nhẹ thì xả nước mát sạch 15–20 phút; bỏng rộng hay bỏng sâu thì đi cấp cứu, gọi 115.
- Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội) có trưng bày dụng cụ xử lý sợi của nhiều dân tộc, xem trước giúp hiểu nhanh khi xuống làng.
Câu hỏi thường gặp
Ươm tơ là gì?
Ươm tơ là nấu kén tằm trong nước nóng cho lớp keo sericin mềm ra, tìm đầu mối sợi của từng kén rồi gộp nhiều sợi đơn thành một sợi tơ. Keo ướt dán các sợi lại, khi khô thành sợi tơ đủ to để dệt.
Một cái kén tằm cho bao nhiêu mét tơ?
Sợi trong một kén tằm dâu thường dài từ vài trăm mét tới hơn một nghìn mét, tuỳ giống tằm và chất lượng kén. Phần kéo được liền mạch ngắn hơn tổng chiều dài, vì lớp ngoài rối và lớp trong quá mảnh.
Tơ sống và tơ chín khác nhau thế nào?
Tơ sống là tơ vừa ươm, còn nguyên phần lớn keo sericin nên cứng và ráp. Tơ chín là tơ đã chuội, tức luộc trong nước có kiềm nhẹ hay xà phòng để rửa trôi keo, nên mềm, nhẹ hơn và óng hơn.
Vì sao ươm tơ phải dùng nước nóng?
Lớp keo sericin bọc sợi chỉ mềm ra khi gặp nước nóng. Keo mềm thì sợi nhả trơn, không đứt, và còn đủ dính để gộp nhiều sợi thành một. Nước nguội làm sợi đứt, nước sôi mạnh làm kén lăn và sợi rối.
Tơ đũi làm từ gì?
Tơ đũi chủ yếu đến từ kén đôi, tức kén do hai con tằm làm chung, sợi đan chéo nhau nên không kéo được một mối trơn. Sợi ra to, không đều, dệt thành vải có mặt sần đặc trưng.