Chế TácWiki
Tìm
Làng gốm Việt

Làng gốm Việt Nam: bản đồ các dòng gốm theo vùng Bắc, Trung, Nam

Làng gốm Việt chia ba vùng: Bắc mạnh gốm men và sành, Trung giữ đất nung và gốm Chăm nặn tay, Nam Bộ có men màu, lò rồng và gạch gốm đỏ ven sông.

Làng gốm Việt Nam: bản đồ các dòng gốm theo vùng Bắc, Trung, Nam

Làng gốm Việt Nam chia thành ba vùng rõ rệt: phía Bắc mạnh về gốm men và sành nung cao (Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Thổ Hà, Hương Canh), miền Trung giữ gốm đất nung và gốm Chăm nặn tay (Thanh Hà, Bàu Trúc), Nam Bộ có gốm men màu và gạch gốm đỏ (Biên Hoà, Lái Thiêu, Mang Thít). Mỗi dòng gốm khác nhau trước hết vì đất ở đó khác nhau, rồi tới loại lò và nhiên liệu sẵn có. Hiểu được hai thứ đó là đọc được gần hết "tính cách" của một làng gốm.

Vì sao làng gốm mọc ở chỗ có đất, có sông

Một làng gốm cần ba thứ: đất sét đủ dẻo, nhiên liệu để đốt lò và đường để chở hàng đi bán. Ở nước ta, ba thứ đó thường gặp nhau bên một con sông. Sông bồi đất phù sa, ven sông có rơm, củi, trấu, và thuyền là cách chở chum vại nặng rẻ nhất trước khi có đường bộ tốt.

Vì vậy nhìn bản đồ sẽ thấy: Bát Tràng nằm bên sông Hồng, Phù Lãng và Thổ Hà bên sông Cầu, Chu Đậu gần sông Thái Bình, Thanh Hà bên sông Thu Bồn, Biên Hoà bên sông Đồng Nai, lò gạch Mang Thít dọc sông Cổ Chiên và các kênh nhánh. Không phải ngẫu nhiên. Đất nặng, hàng nặng, nên làng nghề phải sát bến.

Có làng không dùng đất tại chỗ. Thợ Bát Tràng từ lâu đã mua đất trắng và cao lanh từ nơi khác chở về bằng thuyền, vì đất bãi sông Hồng quanh làng không đủ trắng để làm đồ men đẹp. Ngược lại, Phù Lãng, Hương Canh, Thanh Hà dựa vào đất đỏ, đất sét ngay quanh làng, nên sản phẩm mang màu nâu, đỏ của chính đất đó.

Ba nhóm sản phẩm: đất nung, sành, gốm men – sứ

Trước khi đi từng vùng, cần phân biệt ba nhóm mà thợ nói tới khi kể về làng mình.

  • Đất nung: nung ở nhiệt độ thấp, thường dưới khoảng 1.000°C. Xương xốp, hút nước, gõ kêu đục. Gạch, ngói, nồi đất, lu, chậu hoa, tượng đất nung.
  • Sành: nung cao hơn, khoảng 1.100–1.250°C, xương "chín" kết khối, ít hoặc không thấm nước, gõ kêu chắc. Chum, vại, tiểu sành, hũ đựng tương mắm. Có thể có men hoặc không.
  • Gốm men và sứ: xương mịn hơn, phủ một lớp men thuỷ tinh. Sứ dùng đất giàu cao lanh và nung cao nhất, khoảng 1.250–1.400°C, xương trắng, mỏng có thể thấu sáng.

Các con số trên chỉ là khoảng; mỗi nguồn chia ranh giới hơi khác nhau, và một làng có thể làm cả hai ba nhóm.

Miền Bắc: gốm men và sành

Đồng bằng sông Hồng

Bát Tràng (Hà Nội) là làng gốm được biết đến nhiều nhất, làm đủ loại từ bát đĩa, lọ hoa tới đồ thờ, đồ trang trí. Thế mạnh của làng là đồ men: men trắng, men lam, men rạn, men nâu, men ngọc. Làng nay chủ yếu nung bằng lò ga, nhiều xưởng mở lớp cho khách tập vuốt gốm.

Chu Đậu (TP Hải Phòng, vùng Nam Sách thuộc Hải Dương cũ) là trường hợp đặc biệt: dòng gốm men từng nổi tiếng đi xa bằng đường biển, rồi tắt hẳn, và chỉ được nhận diện lại nhờ khảo cổ từ thập niên 1980. Hôm nay ở đây có lò làm lại theo lối cổ.

Trung du và ven sông Cầu

Phù Lãng (Bắc Ninh) nổi tiếng với gốm sành men nâu và men da lươn, màu vàng nâu loang lấy từ sắt trong đất và tro. Thổ Hà (Bắc Ninh, thuộc Bắc Giang cũ) từng là làng sành lớn bên sông Cầu, chum vại không men gõ kêu như kim loại; nghề gốm nay đã thưa, làng chuyển sang làm bánh đa và giữ ngôi đình cổ. Hương Canh (Phú Thọ, thuộc Vĩnh Phúc cũ) nổi tiếng với đất sét dẻo và chum vại, nồi đất.

Thêm một trung tâm phía Đông Bắc là gốm Đông Triều (Quảng Ninh), với các lò cổ được khảo cổ học nhắc tới và nghề gốm hiện đại làm đồ men màu.

Miền Trung: đất nung bên sông và gốm Chăm

Thanh Hà (Hội An, TP Đà Nẵng) là làng đất nung: gạch, ngói, lu, nồi, tượng nhỏ. Ngói và gạch Thanh Hà gắn với những mái nhà phố cổ Hội An, và việc trùng tu phố cổ vẫn cần đến tay thợ làng.

Bàu Trúc (Khánh Hoà, thuộc Ninh Thuận cũ) giữ một kỹ thuật hiếm: người phụ nữ Chăm nặn gốm bằng tay, không dùng bàn xoay, tự đi vòng quanh khối đất, rồi nung lộ thiên bằng rơm củi. Năm 2022, "Nghệ thuật làm gốm của người Chăm" được UNESCO ghi vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Ở Phước Tích (TP Huế) còn một làng gốm cổ bên sông Ô Lâu, nổi tiếng với nồi đất và đồ đất nung, nay được giữ như một làng cổ có nhà rường và lò gốm cũ. Vùng Bình Định xưa cũng có làng gốm Gò Sành với các lò cổ được khảo cổ học khai quật.

Nam Bộ: men màu, lò rồng và gạch đỏ

Biên Hoà (Đồng Nai) có dòng gốm gắn với trường mỹ nghệ thành lập đầu thế kỷ 20, nổi bật với men màu xanh đồng và lối kết hợp khắc, đắp nổi rồi phủ men. Lái Thiêu (TP Hồ Chí Minh, thuộc Bình Dương cũ) là gốm của các lò người Hoa, quen với tô chén men màu dùng hằng ngày, lu, chậu, và kiểu lò dài nằm trên dốc mà người Nam Bộ gọi là lò rồng (lò long).

Mang Thít (Vĩnh Long) là xứ gạch ngói và gốm đỏ. Hàng trăm lò nung hình vòm mọc dọc sông Cổ Chiên và các kênh, đốt bằng trấu, làm gạch, ngói và chậu gốm đỏ.

Bảng tóm tắt các dòng gốm theo vùng

Làng / dòng gốmTỉnh, thành hiện nayNhóm chínhĐiểm kỹ thuật nổi bật
Bát TràngHà NộiGốm men, sứĐất trắng mua từ nơi khác; nhiều loại men; nay chủ yếu lò ga
Chu ĐậuTP Hải PhòngGốm menDòng gốm được tìm lại nhờ khảo cổ
Phù LãngBắc NinhSành men nâuMen da lươn: tro và sắt
Thổ HàBắc NinhSành không menNung tới khi xương kết khối, gõ kêu
Hương CanhPhú ThọSành, đất nungĐất sét dẻo tại chỗ, chum vại
Phước TíchTP HuếĐất nungNồi đất, làng cổ ven sông
Thanh HàTP Đà NẵngĐất nungGạch ngói cho phố cổ Hội An
Bàu TrúcKhánh HoàĐất nungNặn tay, không bàn xoay, nung lộ thiên
Biên HoàĐồng NaiGốm men màuMen xanh đồng, khắc và đắp nổi
Lái ThiêuTP Hồ Chí MinhGốm men gia dụngLò rồng dài trên dốc
Mang ThítVĩnh LongGạch, gốm đỏLò vòm lớn đốt trấu

Đọc một dòng gốm qua đất, lò và nhiên liệu

Muốn đoán một món gốm thuộc vùng nào, người am hiểu hay nhìn ba thứ theo thứ tự.

  1. Màu xương ở chỗ không men, thường là chân đế. Xương trắng ngà gợi đất nhiều cao lanh. Xương đỏ, nâu gợi đất giàu sắt tại chỗ.
  2. Độ chín. Gõ nhẹ bằng móng tay: tiếng trong, ngân là xương đã kết khối (sành, sứ); tiếng đục là đất nung hoặc nung chưa tới.
  3. Dấu vết lò. Đồ nung trong lò củi, lò rồng hay có vệt tro bám, mặt men không đều giữa hai phía; đồ lò ga, lò điện đều màu hơn. Đồ chồng lên nhau khi nung có thể để lại vòng không men ở lòng hoặc dấu kê ở đáy.

Nhiên liệu cũng để dấu. Vùng Bắc xưa đốt củi rồi chuyển sang than, nay sang ga. Nam Bộ có trấu từ lúa gạo, nên lò Mang Thít đốt trấu. Bàu Trúc đốt rơm và củi ngoài trời vì nung đất nung không cần nhiệt quá cao.

Làng gốm hôm nay: giữ nghề theo cách khác nhau

Mỗi làng đi một đường. Bát Tràng chuyển sang lò ga để giảm khói than, mở rộng sang du lịch và lớp tập làm gốm. Phù Lãng có những thợ chuyển từ chum vại sang tranh gốm và gốm mỹ thuật. Thổ Hà gần như bỏ nghề gốm, giữ làng cổ. Bàu Trúc vừa làm gốm vừa đón khách, và đang được chú ý bảo vệ theo cam kết với UNESCO. Lò gạch Mang Thít nhiều lò đã nguội, một số được giữ lại như cảnh quan.

Điều đó có nghĩa là khi đi làng gốm, nên hỏi trước làng còn làm gì, xưởng nào còn đỏ lửa. Một làng nổi tiếng trong sách chưa chắc còn lò để xem.

Góc nhìn hôm nay: bắt đầu tìm hiểu từ đâu

  • Xem tận mắt: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội) có các sưu tập gốm cổ; Bảo tàng Gốm ở Bát Tràng giới thiệu nghề của làng; Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có trưng bày đồ gốm, đồ đất nung của nhiều dân tộc, trong đó có gốm Chăm.
  • Đọc thêm: các công trình của Trần Quốc Vượng về làng nghề và văn hoá làng; nghiên cứu về Bát Tràng của Phan Huy Lê và nhóm cộng sự; hồ sơ UNESCO về nghệ thuật làm gốm của người Chăm.
  • Việc làm được ngay: lật một cái bát trong nhà, nhìn màu xương ở chân đế và gõ thử. Chỉ hai bước đó đã cho biết nó gần nhóm đất nung, sành hay sứ.

Một lưu ý an toàn khi ghé xưởng: bụi đất sét và men khô chứa silic tinh thể, hít lâu ngày gây bệnh bụi phổi silic. Ở xưởng nhiều bụi nên đeo khẩu trang lọc bụi, không đứng cạnh chỗ đang mài, chà gốm khô.

Câu hỏi thường gặp

Việt Nam có những làng gốm nổi tiếng nào?

Phía Bắc có Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (TP Hải Phòng), Phù Lãng và Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Phú Thọ). Miền Trung có Thanh Hà (TP Đà Nẵng), Phước Tích (TP Huế), Bàu Trúc (Khánh Hoà). Nam Bộ có gốm Biên Hoà (Đồng Nai), Lái Thiêu (TP Hồ Chí Minh) và gốm đỏ Mang Thít (Vĩnh Long).

Gốm, sành và sứ khác nhau thế nào?

Khác ở đất và nhiệt độ nung. Đất nung nung dưới khoảng 1.000°C, xương xốp. Sành nung khoảng 1.100–1.250°C, xương kết khối, ít thấm nước. Sứ dùng đất giàu cao lanh, nung khoảng 1.250–1.400°C, xương trắng và có thể thấu sáng.

Vì sao các làng gốm thường nằm ven sông?

Sông bồi đất sét, ven sông có rơm củi để đốt lò, và thuyền là cách chở chum vại nặng rẻ nhất. Đất nặng, hàng nặng nên làng gốm phải gần bến.

Làng gốm nào còn nặn gốm bằng tay không dùng bàn xoay?

Bàu Trúc ở Khánh Hoà (thuộc Ninh Thuận cũ). Người phụ nữ Chăm đi vòng quanh khối đất thay vì xoay bàn, rồi nung lộ thiên bằng rơm củi. Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh năm 2022.

Làm sao biết một món gốm là sành hay đất nung?

Gõ nhẹ và nhìn chỗ không men. Sành gõ kêu trong, xương chắc, ít hút nước. Đất nung gõ kêu đục, xương xốp, nhỏ một giọt nước vào chỗ không men sẽ thấy thấm nhanh.

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác

Bài viết liên quan

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác Xem app khác