Tổ nghề là người được một làng hay một phường thợ tôn làm thầy đầu tiên của nghề: người mang nghề về, dạy nghề, hoặc được tin là đã nghĩ ra cách làm. Mỗi nghề thờ một ông tổ vì với người thợ xưa, bí quyết nghề là tài sản quý nhất, và thờ tổ là cách vừa tri ân, vừa giữ nghề trong cộng đồng, vừa đặt ra luật cho người cùng nghề. Phần lớn chuyện về tổ nghề đến từ truyền thuyết và thần phả làng, không phải sử liệu chắc chắn.
Tổ nghề, tiên sư, thành hoàng: gọi tên cho đúng
Trong văn bia và câu đối ở đình làng nghề, người đọc sẽ gặp nhiều cách gọi. Hiểu đúng tên gọi giúp đọc đúng di tích.
- Tổ nghề, tổ sư, nghệ tổ: người khai nghề. Chữ "tổ" ở đây là gốc, là đời đầu, giống như tổ tiên trong một dòng họ.
- Tiên sư: thầy đời trước. Nhiều làng thờ "tiên sư" mà không ghi rõ tên, nhất là khi gốc nghề đã mờ.
- Thành hoàng: vị thần bảo hộ cả làng, có thể là nhân thần (người có công), thiên thần hay thần tự nhiên. Thành hoàng không nhất thiết là tổ nghề.
- Hậu thần, hậu phật: người cúng ruộng, cúng tiền cho làng hay chùa, được thờ để đền ơn. Ở làng nghề, đôi khi đó là một người thợ giàu có.
Điều làm người đi làng nghề hay nhầm: ở nhiều làng, tổ nghề cũng được tôn làm thành hoàng, thờ ngay trong đình. Ở làng khác, tổ nghề có miếu, nhà thờ họ riêng, còn đình thờ một vị khác. Hỏi người trông đình "đình thờ ai, tổ nghề thờ ở đâu" là câu hỏi mở được nhiều chuyện.
Vì sao mỗi nghề cần một ông tổ
Nghề là bí quyết, bí quyết cần chủ
Trước khi có sách kỹ thuật, nghề sống trong tay người thợ. Cách pha đất của làng gốm, tỷ lệ đồng – thiếc của làng đúc, cách trui một lưỡi dao, cách kéo sợi bạc mảnh như tóc đều là thứ học bằng mắt và tay qua nhiều năm. Một làng giữ được bí quyết thì có miếng ăn. Đặt nghề dưới danh một ông tổ biến bí quyết thành của chung có chủ: ai trong làng cũng được dùng, người ngoài muốn học phải qua lệ.
Tổ nghề là luật của phường
Phường thợ xưa không có hợp đồng hay giấy phép. Lời thề trước bàn thờ tổ đóng vai trò đó: không bán rẻ phá giá, không dạy nghề cho người ngoài, không làm hàng gian. Người phạm lệ có thể bị phạt, bị đuổi khỏi phường. Khi nhắc tới "tổ nghề", người thợ xưa không chỉ nói chuyện tâm linh mà còn nói chuyện kỷ luật nghề.
Tổ nghề là danh tiếng
Một làng có ông tổ được kể là đỗ đạt, làm quan, đi sứ học nghề thì sản phẩm của làng có thêm giá trị. Đây là lý do nhiều truyền thuyết tổ nghề gắn với chuyện đi sứ phương Bắc rồi "học lỏm" mang về. Người nghiên cứu văn hoá làng như Trần Quốc Vượng đã lưu ý rằng các chuyện kể này nói nhiều về cách làng muốn được nhìn nhận, chưa chắc là ghi chép đúng việc đã xảy ra.
Một số tổ nghề thủ công hay được nhắc
Bảng dưới gom vài trường hợp quen thuộc. Cột cuối ghi rõ mức độ chắc chắn của nguồn, vì đây là chỗ người viết và người đọc dễ trượt nhất.
| Nghề | Nơi thờ tiêu biểu | Người được thờ làm tổ | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Đúc đồng | Nhiều làng đúc Bắc Bộ, đền Lý Quốc Sư (Hà Nội) | Thiền sư Nguyễn Minh Không, thời Lý | Nhân vật có trong sử; việc làm tổ nghề đúc là truyền thuyết |
| Kim hoàn, đúc bạc nén | Châu Khê (TP Hải Phòng), đình Kim Ngân phố Hàng Bạc | Lưu Xuân Tín, thời Lê sơ | Theo thần phả và truyền thống làng |
| Kim hoàn | Định Công (Hà Nội) | Ba anh em họ Trần | Theo truyền thuyết làng |
| Kim hoàn xứ Huế | Kế Môn (TP Huế) | Cao Đình Độ và con là Cao Đình Hương | Theo truyền thống làng, có nhà thờ họ |
| Gò đồng | Đại Bái (Bắc Ninh) | Nguyễn Công Truyền | Theo truyền thuyết làng |
| Gốm | Bát Tràng (Hà Nội) | Có nhiều thuyết, kể cả chuyện ba vị đi sứ học nghề | Truyền thuyết; nghiên cứu lịch sử đưa ra cách hiểu khác |
| Khắc ván in | Liễu Tràng, Hồng Lục (Hải Dương xưa) | Lương Như Hộc, thời Lê | Nhân vật có trong sử; vai trò tổ nghề theo truyền thống |
Thêu, sơn, mộc, chạm cũng đều có tổ riêng; phần đó thuộc các nghề không bàn kỹ ở đây. Các bài kế tiếp trong mục này đi sâu từng nghề: gốm Bát Tràng, đúc đồng, kim hoàn.
Truyền thuyết và sử liệu: đọc thế nào cho tỉnh táo
Thần phả của nhiều làng được chép lại, sửa lại qua nhiều đời. Có bản được triều đình xét cấp sắc phong, nên nội dung đôi khi được "nâng" cho hợp tiêu chuẩn phong thần. Vì vậy, khi gặp một chuyện tổ nghề, nên hỏi ba câu.
- Nhân vật có trong chính sử không? Nguyễn Minh Không có trong Đại Việt sử ký toàn thư với tư cách một thiền sư được phong quốc sư thời Lý. Nhưng chính sử không chép việc ông dạy nghề đúc. Phần đó thuộc truyền thuyết.
- Chuyện kể xuất hiện từ bao giờ? Một tấm bia thế kỷ 17 nói về tổ nghề có giá trị khác hẳn một bản thần phả chép lại đầu thế kỷ 20.
- Có nhiều làng cùng nhận một ông tổ không? Nếu có, khả năng cao là nghề lan theo đường thợ di cư, và các làng cùng gắn mình với một gốc để giữ danh.
Nói vậy không có nghĩa truyền thuyết vô giá trị. Truyền thuyết cho biết làng nghĩ nghề của mình đến từ đâu, quý ai, kiêng gì. Đó là sử liệu về tâm thức, chỉ không phải sử liệu về sự kiện.
Thờ tổ trong xưởng và trong đời người thợ
Ngoài đình, miếu, người thợ còn thờ tổ ngay tại chỗ làm. Ở nhiều xưởng gốm, xưởng đúc, lò rèn, có một ban thờ nhỏ đặt chỗ cao, sạch, gần lò. Những dịp hay thắp hương:
- Đốt lò, mở lò: với nghề gốm và đúc, một mẻ hỏng là mất công nhiều ngày. Lễ trước khi đốt lò vừa là cầu may, vừa là lúc cả xưởng kiểm lại mọi thứ.
- Nhận học trò: ở nhiều phường xưa, người học việc làm lễ ra mắt tổ trước khi được dạy.
- Mở hàng đầu năm: ngày làm việc đầu tiên sau Tết, thợ làm một món nhỏ để "khai búa", "khai lò".
- Ngày giỗ tổ: mỗi làng một ngày, thường theo âm lịch, ghi trong thần phả hoặc hương ước.
Nhìn từ góc nghề, các lễ này có một chức năng rất thực tế: chúng tạo ra những điểm dừng trong năm, nơi người thợ cả gặp nhau, phân xử chuyện nghề, chia việc, và người trẻ được nhìn thấy cả phường làm việc chung.
Tổ nghề với khoa học vật liệu: điều truyền thuyết giấu
Đằng sau nhiều chuyện tổ nghề là một mốc kỹ thuật có thật. Chuyện đi sứ học nghề gốm phản ánh việc men gốm, lò nung ở vùng Hoa Nam ảnh hưởng tới gốm Bắc Bộ. Chuyện ông tổ dạy đúc bạc nén cho thấy nhu cầu tiền tệ của nhà nước cần một nhóm thợ tinh chế kim loại quý. Chuyện thiền sư đúc đồng gắn với thời đạo Phật thịnh, chùa cần chuông, tượng, khánh lớn.
Đọc như vậy, câu hỏi "ông tổ có thật không" trở thành câu hỏi hay hơn: "Nghề này đến vùng này vào lúc nào, nhờ con đường nào?" Câu trả lời thường nằm ở khảo cổ (lò cổ, khuôn đúc, phế phẩm), ở văn bia và ở cách làng tổ chức nghề.
Góc nhìn hôm nay: tìm hiểu tổ nghề ở đâu
Thờ tổ nghề vẫn sống ở nhiều làng. Người muốn hiểu sâu có thể làm mấy việc cụ thể:
- Đọc câu đối và hoành phi trong đình. Nhiều câu ghi tên nghề, tên tổ và công đức. Chụp ảnh (sau khi xin phép) rồi nhờ người biết chữ Hán đọc.
- Hỏi ban quý tế hoặc người trông đình về ngày giỗ tổ. Ngày này thay đổi theo làng, không nên tra trên mạng rồi đến mà không hỏi lại.
- Ghé phố nghề ở Hà Nội: đình Kim Ngân ở phố Hàng Bạc gắn với phường thợ bạc, đền Lý Quốc Sư thờ Nguyễn Minh Không.
- Đọc sách: các công trình về làng nghề của Trần Quốc Vượng, nghiên cứu về Bát Tràng của nhóm Phan Huy Lê, các tập thần tích làng do viện nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm.
- Đến bảo tàng: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có hiện vật đồ thờ, công cụ nghề giúp hình dung không gian thờ trong xưởng.
Một mẹo khi đọc thông tin trên mạng: bài nào khẳng định chắc chắn năm sinh, năm mất, quê quán chi tiết của một ông tổ mà không nêu nguồn thì nên đối chiếu thêm. Rất nhiều chi tiết lan truyền từ một bản thần phả duy nhất.
Câu hỏi thường gặp
Tổ nghề là gì?
Tổ nghề là người được một làng hay phường thợ tôn làm thầy đầu tiên của nghề, người mang nghề về hoặc dạy nghề cho làng. Tổ nghề được thờ ở đình, miếu, nhà thờ họ hoặc ban thờ trong xưởng. Phần lớn chuyện về tổ nghề thuộc truyền thuyết và thần phả làng.
Tổ nghề và thành hoàng làng khác nhau thế nào?
Thành hoàng là thần bảo hộ cả làng, còn tổ nghề là thầy khai nghề. Hai vai trò có thể trùng nhau ở một số làng nghề, khi người khai nghề được tôn làm thành hoàng. Ở làng khác, tổ nghề có nơi thờ riêng.
Ông tổ nghề đúc đồng là ai?
Nhiều làng đúc đồng Bắc Bộ thờ thiền sư Nguyễn Minh Không thời Lý làm tổ nghề. Ông là nhân vật có trong Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng việc ông khai nghề đúc thuộc truyền thuyết, không được chính sử chép.
Vì sao làng nghề xưa giữ bí mật nghề?
Vì bí quyết nghề là nguồn sống của cả làng, mất bí quyết là mất khách. Thờ tổ, lập lệ phường và thề trước bàn thờ tổ là cách giữ bí quyết trong cộng đồng. Nhiều làng có lệ không truyền nghề cho người ngoài.
Ngày giỗ tổ nghề là ngày nào?
Không có một ngày chung cho mọi nghề. Mỗi làng, mỗi phường giỗ tổ theo ngày ghi trong thần phả hoặc hương ước, thường tính theo âm lịch. Muốn đến dự nên hỏi trước ban quản lý đình hoặc người trong làng.