Một lò rèn truyền thống gồm năm thứ chính: bếp than để nung thép, bễ để thổi gió cho than cháy mạnh, đe làm mặt đập, búa để tạo hình và kìm để giữ phôi nóng, cộng thêm máng nước trui và đá mài. Mỗi thứ có lý do vật lý rất rõ: gió quyết định nhiệt độ, khối lượng đe quyết định lực búa có "ăn" vào thép hay không, còn kìm phải vừa khít phôi để phôi không xoay khi bị đập. Hiểu bộ đồ nghề này là hiểu vì sao thợ rèn làm theo những động tác đã lặp lại hàng trăm năm.
Bếp than: không phải chỗ nào trong lửa cũng như nhau
Bếp rèn thường là một hố hoặc khay đắp đất, gạch, ở đáy có lỗ gió nối với bễ. Than được vun thành đống trên lỗ gió. Khi gió thổi vào, than ở giữa cháy trắng, than xung quanh âm ỉ, lớp ngoài cùng gần như nguội.
Người thợ biết rằng lửa có các vùng khác nhau:
- Sát lỗ gió: nhiều ôxy, lửa "ôxy hoá". Thép đặt ở đây đóng vảy nhanh, mất bớt carbon ở bề mặt.
- Giữa đống than: ôxy đã bị than ăn gần hết, lửa "khử", nóng và ít đóng vảy. Đây là chỗ đặt phôi tốt nhất.
- Rìa và mặt đống than: nguội hơn, dùng để ủ phôi chờ hoặc làm than chín dần.
Vì vậy thợ không chọc phôi thẳng xuống đáy lò, mà vùi nó vào lòng đống than, lấp than lên trên. Than tốt cho rèn là than cháy nóng, ít khói, ít lưu huỳnh. Than đá, than cốc và than củi đều được dùng tuỳ vùng: vùng cao hay dùng than củi tự đốt, đồng bằng hay dùng than đá. Trong quá trình đốt, xỉ than (cục cứng, xốp) đóng dưới đáy làm tắc gió; thợ phải cời bỏ định kỳ.
Bễ: lá phổi của lò rèn
Than cháy tự nhiên chỉ đủ làm thép đỏ sẫm. Muốn lên cam, vàng để rèn, phải thổi thêm gió. Đó là việc của bễ.
| Loại bễ | Cấu tạo | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|---|
| Bễ da, bễ túi | Túi da hoặc khung gỗ bọc da, có van một chiều | Đơn giản, làm được tại chỗ | Gió ngắt quãng nếu chỉ có một túi |
| Bễ ống pít-tông | Một hoặc hai ống gỗ, pít-tông bọc lông, vải hay da kéo lên xuống | Hai ống thổi luân phiên cho gió gần liên tục; phổ biến ở vùng núi phía Bắc và Đông Nam Á | Cần người kéo suốt |
| Bễ hộp | Hộp gỗ có pít-tông hai chiều, đẩy và kéo đều thổi | Gió đều | Làm khó hơn, cồng kềnh |
| Quạt tay quay, quạt điện | Cánh quạt ly tâm | Gió đều, điều chỉnh được, đỡ một người | Cần điện; dễ thổi quá tay làm cháy thép |
Ngày nay hầu hết lò ở làng nghề dùng quạt điện. Nhưng bễ kéo tay vẫn còn ở nhiều bản vùng cao và trong bảo tàng. Điểm chung của mọi loại bễ là gió phải đi qua ống dẫn vào đáy bếp, không thổi từ trên xuống, để lửa nóng từ dưới lên và phôi nằm trong vùng khử.
Đe: khối lượng là tất cả
Mỗi nhát búa đập xuống, phôi bị kẹp giữa búa và đe. Nếu đe nhẹ hoặc đặt trên nền lún, một phần năng lượng búa làm đe nảy, rung, lún, chứ không làm thép chảy. Vì thế đe phải nặng hơn búa nhiều lần và đặt vững trên gốc gỗ lớn hoặc bệ chắc.
Đe ở làng rèn Việt có nhiều dạng:
- Khối thép đặc mặt phẳng, đơn giản, phổ biến ở lò nhỏ.
- Đoạn ray đường sắt cũ dựng đứng hoặc đặt nằm: thép ray cứng, nặng, dễ kiếm. Dựng đứng cho khối lượng dồn dưới mặt đập, hiệu quả hơn đặt nằm.
- Đe có sừng kiểu châu Âu: mũi tròn dùng uốn vòng, lỗ vuông trên mặt đe để cắm dụng cụ chặt.
Mặt đe phải cứng. Mặt mềm sẽ lõm dần, in vết lên mọi phôi. Thợ giỏi còn biết nghe đe: tiếng đanh, búa nảy tốt là đe khoẻ; tiếng đục, búa "chết" là đe kém hoặc kê không chắc.
Búa: búa con chỉ đường, búa tạ làm việc nặng
Trong lò rèn nhiều người, có hai loại búa với hai vai trò rõ ràng. Thợ cả cầm búa tay nhẹ, khoảng một ký trở lại tuỳ người, vừa để chỉnh dáng vừa để "ra hiệu": gõ chỗ nào, thợ phụ đập vào chỗ đó. Thợ phụ quai búa tạ nặng vài ký, cán dài, vung qua đầu hoặc vung ngang để dồn lực.
Mặt búa cũng có hình dạng khác nhau. Mặt phẳng hơi vồng để làm phẳng; đầu kia có thể là cạnh (búa đầu ngang) để vuốt dài phôi nhanh: cạnh búa dồn thép chảy theo một hướng, giống như dùng mép bàn tay ấn bột. Thợ rèn thường tự làm hoặc tự sửa búa của mình, vì búa vừa tay là thứ quyết định nhịp làm cả ngày.
Kìm và đồ nghề phụ
Kìm rèn có mỏ dài, cán dài để tay ở xa nhiệt. Điều ít ai để ý: mỗi lò có rất nhiều kìm, vì mỏ kìm phải khớp với hình phôi. Kìm mỏ phẳng cho phôi dẹt, kìm mỏ rãnh cho phôi tròn, kìm mỏ chữ V cho phôi vuông. Phôi kẹp không khít sẽ xoay hoặc văng khi búa xuống, vừa hỏng dáng vừa nguy hiểm.
Đồ nghề phụ gồm: đục chặt nóng để cắt phôi đỏ, đục đột lỗ, các khuôn đặt trên đe để uốn hay tạo rãnh, giũa để thử độ cứng, máng nước trui, thùng dầu, đá mài. Xưa thợ tự rèn phần lớn những món này; một lò rèn lâu năm là cả một kho dụng cụ tự làm.
Máng trui: nơi con dao "thành người"
Trui là nung thép tới nhiệt độ nhất định rồi làm nguội thật nhanh để thép cứng lên. Máng trui thường là thùng nước đặt sát đe để phôi từ lò ra tới nước mất ít nhiệt nhất. Có lò dùng nước lã, có lò pha muối (nước muối làm nguội nhanh hơn nước thường), có lò dùng dầu. Mỗi lựa chọn có lý do riêng, được bàn kỹ trong danh mục "Thép, nhiệt luyện & dao" trên wiki này.
Điều người ngoài cần biết: khi thép đỏ chạm nước, một lớp hơi nước bọc quanh thép ngay lập tức. Thợ lắc nhẹ phôi để phá lớp hơi, nước chạm vào thép nhanh hơn. Đứng gần, nước có thể bắn, hơi nóng phụt lên. Với dầu, thép đỏ có thể làm dầu bắt lửa trên mặt thùng.
An toàn trong lò rèn
Lò rèn là nơi có lửa, kim loại nóng, búa nặng và khói. Những rủi ro chính:
- Bỏng do thép không đỏ: thép nguội xuống dưới khoảng 500–600°C là gần như hết thấy đỏ dưới ánh sáng ban ngày, nhưng vẫn đủ nóng làm cháy da tức thì. Mọi miếng thép trên bàn, đe, nền xưởng đều coi như đang nóng.
- Vảy ôxít bắn: lớp vảy đen trên thép đỏ vỡ ra khi đập, bắn xa, rất nóng. Kính bảo hộ là bắt buộc với người đứng gần.
- Khí CO: than cháy thiếu gió sinh khí CO không màu, không mùi. Lò phải ở chỗ thông gió, có ống khói hoặc chụp hút; tuyệt đối không ngủ, không đóng kín cửa cạnh lò còn than.
- Tiếng ồn: búa đập đe liên tục làm hỏng thính lực dần. Thợ trẻ nên dùng nút tai.
- Dầu trui bắt lửa: thùng dầu phải có nắp đậy kín để dập lửa, không dùng nước dập dầu cháy.
- Nước gặp kim loại nóng chảy: lò rèn không nấu chảy thép, nhưng nếu xưởng có làm hàn hay đúc nhỏ, mọi dụng cụ ẩm gặp kim loại lỏng đều có thể gây nổ hơi nước.
Bỏng nhẹ: xả nước mát sạch 15–20 phút, không bôi kem đánh răng, nước mắm, mỡ. Bỏng rộng, sâu, bỏng mặt, tay, mắt hay vảy thép vào mắt: đi cấp cứu, gọi 115.
Góc nhìn hôm nay: xem lò rèn ở đâu
Muốn thấy bễ ống kéo tay, đe đá, kìm tự rèn, nơi dễ đến nhất là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội, có trưng bày đồ rèn của các dân tộc vùng cao. Muốn thấy lò còn chạy thì đến các làng như Phúc Sen (Cao Bằng), Đa Sỹ (Hà Nội), Vân Chàng (Ninh Bình) hoặc lò rèn ở chợ quê gần nhà, xin phép đứng xem một buổi sáng. Hãy để ý ba thứ: thợ đặt phôi ở đâu trong lửa, đe nặng cỡ nào so với búa, và lúc nào thợ dừng đập để đưa phôi về lò. Ba điều ấy nói lên trình độ của lò hơn mọi lời giới thiệu.
Câu hỏi thường gặp
Bễ lò rèn dùng để làm gì?
Bễ thổi gió vào đáy bếp than để than cháy mạnh hơn, đưa thép từ đỏ sẫm lên cam, vàng. Không có bễ, than chỉ cháy âm ỉ, không đủ nóng để rèn. Ngày nay nhiều lò thay bễ kéo tay bằng quạt điện.
Vì sao đe rèn phải nặng?
Khi búa đập xuống, đe nhẹ sẽ nảy, rung, lún, làm hao năng lượng búa. Đe nặng và kê chắc thì gần như toàn bộ lực dồn vào làm thép chảy. Vì vậy thợ hay dùng khối thép lớn hoặc đoạn ray dựng đứng.
Lò rèn dùng than gì?
Than đá, than cốc và than củi đều dùng được. Than tốt cho rèn cháy nóng, ít khói, ít lưu huỳnh. Vùng cao hay dùng than củi tự đốt, đồng bằng hay dùng than đá.
Vì sao thợ rèn có nhiều kìm khác nhau?
Vì mỏ kìm phải khớp với hình phôi: dẹt, tròn, vuông. Kẹp không khít thì phôi xoay hoặc văng khi búa xuống, vừa hỏng dáng vừa nguy hiểm cho người đứng gần.
Lò rèn có nguy hiểm khí CO không?
Có. Than cháy thiếu gió sinh khí CO không màu, không mùi, gây đau đầu, buồn nôn, ngất. Lò phải đặt nơi thông gió, có ống khói, và không ai được ngủ trong phòng kín cạnh lò còn than.