Chế TácWiki
Tìm
Mây tre, cói & nón

Đan lát Việt Nam: tre, nứa, mây, giang, cói, lục bình khác nhau thế nào

Đan lát Việt dùng sáu vật liệu chính: tre cứng, nứa nhẹ, mây dẻo dai, giang dài gióng, cói và lục bình là thân cỏ mềm. Thợ chọn vật liệu theo việc rồi mới chọn kiểu đan.

Đan lát Việt Nam: tre, nứa, mây, giang, cói, lục bình khác nhau thế nào

Đan lát Việt Nam dùng sáu nhóm vật liệu chính: tre, nứa, mây, giang, cói và lục bình. Mỗi thứ có một tính chất cơ học riêng và vì thế hợp với một loại đồ riêng: tre cứng, chịu lực, hợp làm khung và đồ nặng; nứa mỏng, nhẹ, hợp đan phên, cót; mây dẻo, dai, uốn được mà không gãy, hợp làm bàn ghế và đồ tinh; giang dài gióng, dẻo, hợp chẻ lạt và đan nan mảnh; cói và lục bình là thân cỏ mềm, hợp dệt chiếu, đan thảm, túi. Người thợ chọn vật liệu theo việc trước khi chọn kiểu đan.

Vì sao đan lát phổ biến ở Việt Nam

Khí hậu nhiệt đới ẩm cho tre, nứa, mây mọc nhanh và nhiều; đồng bằng ven biển có cói; sông rạch phương Nam đầy lục bình. Nguyên liệu sẵn, dụng cụ đơn giản: một con dao chẻ, một con dao vót, vài cái dùi. Từ đó mà rổ rá, thúng mủng, nong nia, nơm đó, chiếu, nón, gùi có mặt khắp các vùng, mỗi vùng một vật liệu chủ đạo. Làng nghề đan lát hôm nay phần lớn làm đồ trang trí, đồ gia dụng và hàng xuất khẩu, nhưng nguyên lý vẫn là của đồ dùng nông thôn xưa.

Bảng vật liệu: chọn đúng thứ cho đúng việc

Vật liệuBản chấtTính chất nổi bậtThường làm
TreHọ cỏ thân gỗ, thành dàyCứng, chịu lực, cật bóng bềnKhung, rổ rá, thúng, nong nia, đồ chịu tải
NứaHọ tre, thành mỏng, gióng dàiNhẹ, dễ chẻ thành nan bản rộngPhên, cót, vách, đồ nhẹ
MâyCây leo họ cau, thân đặcDẻo, dai, uốn cong khi hơ nóngBàn ghế, khay, giỏ, đồ đan nan nhỏ
GiangHọ tre leo, gióng rất dàiDẻo, dai, chẻ được lạt mảnhLạt buộc, đan nan mảnh, nón
Cói (lác)Cỏ thân ba cạnh, mọc vùng nước lợMềm, dai, chẻ đôi phơi khôChiếu, thảm, túi, đồ đan mềm
Lục bình (bèo tây)Cây thuỷ sinh, cọng xốpMềm, nhẹ, bện được thành dâyGiỏ, hộp, thảm, đồ trang trí

Tre và nứa: cứng vì có thớ dọc

Thân tre gồm những bó sợi chạy dọc rất bền nằm trong nền mô mềm. Sợi dày đặc ở lớp ngoài, thưa dần vào trong. Lớp ngoài cùng gọi là cật: cứng, bóng, chịu ẩm, chịu mài mòn. Lớp trong là bụng hay ruột: xốp, giòn, nhiều tinh bột. Nan cật bền gấp nhiều lần nan bụng, nên đồ tốt dùng nan cật cho chỗ chịu lực và chỗ hay cọ xát.

Vì thớ chạy dọc, tre chẻ dọc rất dễ mà bẻ ngang rất khó. Thợ đan lợi dụng điều này: một nhát dao đặt đúng đầu gióng là tách được cả cây thành thanh, rồi thành nan. Nứa cùng họ với tre nhưng thành mỏng, gióng dài, nên chẻ ra nan bản rộng, nhẹ, hợp đan phên, cót, những tấm lớn không cần chịu lực nặng.

Mây: dẻo nhờ cấu trúc khác hẳn tre

Mây không phải tre. Nó là cây leo họ cau, thân đặc, không rỗng ruột, mọc trong rừng nhiệt đới, bám leo nhờ gai và tua móc. Thân mây có lớp vỏ ngoài bóng cứng và lõi xơ dọc. Nhờ cấu trúc này, mây dẻo hơn tre nhiều: hơ nóng là uốn cong được thành vòng, thành khung ghế, nguội lại giữ nguyên dáng.

Từ một sợi mây, thợ tách ra hai thứ: bì mây (lớp vỏ ngoài, chẻ thành nan dẹt bóng, dùng đan bọc và buộc) và lõi mây (chuốt tròn, dùng làm cốt hay đan đồ mộc). Đồ mây tinh ở các làng như Phú Vinh (Hà Nội) chủ yếu dựa vào những sợi nan mây chẻ, chuốt rất mảnh.

Giang: dài và dẻo cho những việc cần mảnh

Giang là một loài thuộc họ tre nhưng thân leo, gióng rất dài. Gióng dài nghĩa là nan chẻ ra ít mắt, chạy liền một mạch, rất hợp làm lạt buộc và nan mảnh. Lạt giang từng là thứ buộc gần như mọi thứ ở nông thôn: buộc bánh chưng, buộc mái tranh, buộc vòng nón. Ở các làng nón, vòng nón thường làm bằng tre hay giang chuốt tròn.

Cói và lục bình: đan từ thân cỏ

Cói (Nam Bộ gọi là lác) là loài cỏ thân ba cạnh, mọc tốt trên đất phù sa nhiễm mặn ven biển và đất phèn. Thân cói cắt về, chẻ đôi, phơi khô thành sợi dẹt mềm, bền, có mùi thơm cỏ khô đặc trưng. Từ đó dệt chiếu trên khung, hoặc se thành dây rồi đan túi, thảm. Kim Sơn (Ninh Bình) và Định Yên (Đồng Tháp) là hai trung tâm cói nổi tiếng ở hai đầu đất nước.

Lục bình, ở miền Bắc gọi là bèo tây, là cây thuỷ sinh có nguồn gốc Nam Mỹ, lan khắp sông ngòi nhiều nước nhiệt đới. Cọng lục bình xốp nhờ những khoang khí giúp cây nổi; phơi khô thì thành dải nhẹ, mềm, bện được thành dây. Vì mềm, đồ lục bình thường đan trên một cốt khung để giữ dáng.

Cùng một cái giỏ, sáu vật liệu, sáu kết quả

Thử hình dung cùng một chiếc giỏ đựng đồ:

  • Đan bằng tre: cứng cáp, đứng dáng, chịu được nặng, nhưng nan gãy nếu bị đè gập.
  • Đan bằng nứa: nhẹ, nhanh làm, nhưng mỏng và mau hỏng nếu đựng đồ nặng.
  • Đan bằng mây: dẻo, bền, chịu va đập, có thể đan rất mảnh.
  • Đan bằng giang: mảnh, mềm, hợp đồ nhỏ, đồ tinh.
  • Đan bằng cói: mềm, gập được, hợp túi xách, giỏ đi chợ nhẹ.
  • Đan bằng lục bình: dày, êm, hợp giỏ đựng đồ vải, đồ trang trí; cần khung bên trong.

Hiểu điều này giúp người mua chọn đúng đồ: giỏ đựng củi không nên là giỏ lục bình, túi đi biển không cần mây.

Đan lát và độ ẩm: kẻ thù chung

Cả sáu vật liệu đều là thực vật, hút ẩm và nhả ẩm theo thời tiết. Ẩm cao thì mốc; trong tre, mây còn tinh bột thì mọt. Vì vậy mọi làng đan đều có bước xử lý trước khi đan: ngâm, luộc, phơi, hun khói. Những bước này có bài riêng. Người dùng cũng cần biết giữ đồ trong mùa nồm, vì một chiếc giỏ đẹp có thể mốc trắng chỉ sau vài tuần ẩm kéo dài.

Đi xem và tập đan: bắt đầu từ đâu

  • Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội trưng bày đồ đan của nhiều dân tộc, từ nong nia đồng bằng tới gùi Tây Nguyên, rất hợp để so sánh vật liệu.
  • Các làng đan quanh Hà Nội như Phú Vinh có thể đi trong ngày; vùng cói Kim Sơn kết hợp được với các điểm tham quan khác của Ninh Bình.
  • Người mới tập đan, kể cả trẻ từ 8 tuổi có người lớn kèm, nên bắt đầu với nan đã chẻ sẵn hoặc sợi cói, sợi lục bình khô, đan một tấm lót cốc kiểu lóng mốt. Việc chẻ, vót nan dùng dao sắc nên để người lớn làm.
  • Nan tre, nan nứa mới chẻ có cạnh rất sắc, dễ cứa đứt tay; đeo găng vải mỏng khi vuốt nan.

Câu hỏi thường gặp

Đan lát Việt Nam dùng những vật liệu gì?

Sáu nhóm chính là tre, nứa, mây, giang, cói và lục bình. Tre và nứa cho nan cứng, mây và giang cho nan dẻo dai, còn cói và lục bình là thân cỏ mềm dùng dệt chiếu, đan túi và thảm.

Mây và tre khác nhau thế nào?

Tre là cây họ cỏ thân rỗng, cứng, chẻ dọc dễ. Mây là cây leo họ cau, thân đặc, dẻo hơn nhiều, hơ nóng uốn cong được. Vì vậy mây hợp làm bàn ghế, đồ uốn cong, còn tre hợp làm đồ chịu lực.

Cật tre là gì?

Cật là lớp ngoài cùng của thân tre, nơi sợi dọc dày đặc nhất, nên cứng, bóng và bền. Phần bên trong gọi là bụng hay ruột, xốp và giòn hơn. Đồ đan tốt dùng nan cật ở chỗ chịu lực.

Lục bình và bèo tây có phải là một?

Đúng, đó là cùng một loài cây thuỷ sinh có nguồn gốc Nam Mỹ. Miền Nam gọi là lục bình, miền Bắc gọi là bèo tây. Cọng phơi khô được dùng để đan giỏ, hộp, thảm.

Cói và lác có khác nhau không?

Trong cách gọi thông thường, lác là tên Nam Bộ của cói, loài cỏ thân ba cạnh mọc trên đất nhiễm mặn và đất phèn. Chiếu lác ở miền Tây và chiếu cói ở miền Bắc đều dệt từ loại cây này.

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác

Bài viết liên quan

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác Xem app khác