Đúc đồng có ba cách tạo khuôn chính: khuôn đất ghép nhiều mảnh, khuôn sáp (làm mẫu bằng sáp rồi nung cho sáp chảy mất) và khuôn cát đầm quanh mẫu. Khuôn đất hợp với chuông, đỉnh, vật tròn đối xứng; khuôn sáp cho chi tiết tinh nhất, mỗi khuôn chỉ dùng một lần; khuôn cát nhanh, rẻ công, hợp làm nhiều chiếc giống nhau. Cái khuôn quyết định gần hết chất lượng vật đúc, nên thợ cả thường dành phần lớn thời gian cho khuôn chứ không phải cho lúc rót.
Khuôn là gì: lõi, áo và khoảng trống ở giữa
Một vật đúc rỗng, như chuông hay tượng, cần hai phần khuôn. Lõi là khối ở trong, tạo nên lòng rỗng. Áo khuôn (còn gọi khuôn ngoài) bao phía ngoài, mang hình mặt ngoài của vật. Khoảng trống giữa lõi và áo chính là chỗ đồng lỏng sẽ chảy vào. Khoảng trống này dày bao nhiêu thì vách vật đúc dày bấy nhiêu.
Ngoài ra khuôn nào cũng cần thêm vài đường đi:
- Cổng rót: phễu và đường dẫn để kim loại lỏng vào khuôn.
- Lỗ thoát khí: cho không khí và hơi trong khuôn chạy ra, không thì khí kẹt lại thành lỗ rỗ hoặc đẩy ngược kim loại ra ngoài.
- Đậu ngót: một khối kim loại thừa đặt ở chỗ dày, nguội sau cùng, để "bù" cho phần kim loại co lại khi đông đặc.
- Con kê, chốt định vị: giữ lõi đúng chỗ, không cho lõi lệch hay nổi lên khi đồng tràn vào.
Lõi lệch chỉ vài phân là một bên vách chuông dày, một bên mỏng; chuông kêu rè và dễ nứt. Vì vậy thợ coi việc định tâm lõi quan trọng không kém việc nấu đồng.
Khuôn đất: cách của làng đúc truyền thống
Đất làm khuôn khác đất làm gốm
Đất khuôn không cần mịn đẹp như đất gốm. Nó cần ba thứ: chịu nhiệt khi đồng lỏng tràn vào, thoáng khí để hơi thoát ra được, và không co nứt khi sấy. Đất sét nguyên chất co nhiều và bí, nên thợ pha thêm cát, trấu, rơm băm hoặc các thứ sợi khác theo công thức riêng của từng lò. Trấu và rơm cháy đi khi nung khuôn, để lại vô số lỗ nhỏ li ti làm khuôn thở được.
Lớp đất sát mặt vật thường được làm mịn hơn, vì nó quyết định độ nhẵn của bề mặt đồng. Lớp ngoài thô hơn, dày hơn, chịu lực.
Làm khuôn chuông bằng dưỡng xoay
Với vật tròn như chuông, thợ hay dùng một tấm dưỡng (một tấm ván cắt theo nửa mặt cắt của chuông) gắn vào trục giữa. Đắp đất quanh trục, xoay dưỡng một vòng là gạt ra được một khối lõi tròn đều. Đắp tiếp lớp "chuông giả" bằng đất mỏng có đúng độ dày vách, rồi đắp áo ngoài phủ lên. Sau đó tách áo, gỡ bỏ lớp chuông giả, đặt áo trở lại: khoảng trống đúng bằng vách chuông hiện ra.
Cách này cho vách đều và mặt cắt chính xác, nên được dùng cho chuông ở nhiều nước, không riêng Việt Nam.
Khuôn ghép nhiều mảnh
Vật có hình phức tạp hơn thì áo khuôn được chia thành nhiều mảnh để tháo ra lắp vào. Đường ghép giữa các mảnh thường để lại một gờ mảnh trên vật đúc, gọi là bavia đúc. Thợ sửa nguội sẽ đục, giũa đi, nhưng nhìn kỹ ở chỗ khuất đôi khi vẫn thấy dấu. Đó là một dấu hiệu nhận ra đồ đúc khuôn ghép.
Sấy và nung khuôn
Khuôn đất phải khô kiệt trước khi rót. Thợ phơi, rồi hong lửa, có khi đốt lửa ngay trong lòng khuôn nhiều giờ. Mục đích không chỉ cho khuôn cứng mà để đuổi hết nước. Một khuôn còn ẩm gặp đồng hơn nghìn độ sẽ sinh hơi nước đột ngột, làm đồng sôi trào, bắn ngược lên, hoặc làm vỡ khuôn. Đây là tai nạn đáng sợ nhất của nghề đúc.
Khuôn sáp: mẫu biến mất để nhường chỗ cho đồng
Kỹ thuật này trong sách thường gọi là đúc khuôn sáp chảy, hay đúc sáp mất. Trình tự cơ bản:
- Làm lõi đất có hình gần đúng vật.
- Phủ lên lõi một lớp sáp đúng bằng độ dày vách, rồi nặn, khắc chi tiết ngay trên sáp. Sáp mềm, sửa dễ, giữ được nét rất nhỏ.
- Gắn thêm các que sáp làm cổng rót và lỗ thoát khí.
- Phủ đất mịn từng lớp lên mặt sáp, rồi đắp lớp đất thô ra ngoài thành áo khuôn liền một khối.
- Nung khuôn: sáp chảy ra theo đường rót và cháy hết, để lại khoảng trống đúng hình mẫu.
- Rót đồng khi khuôn còn nóng, chờ nguội, đập vỡ áo khuôn lấy vật ra.
Ưu điểm lớn nhất là không có đường ghép, nên tạo được hình đứng tự do, tay chân rời, chi tiết lõm khoét mà khuôn ghép không tháo ra được. Nhược điểm là mỗi khuôn chỉ dùng một lần, mỗi mẫu sáp cũng chỉ một lần. Làm hỏng là mất cả mẫu lẫn khuôn.
Nhiều hiện vật đồng thời kim khí ở Việt Nam và Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu cho là làm bằng khuôn sáp hoặc kết hợp khuôn sáp với khuôn ghép. Mức độ dùng từng kỹ thuật ở từng hiện vật vẫn là chuyện giới khảo cổ còn bàn, nên khi đọc tài liệu nên xem tác giả dựa vào dấu vết gì.
Sáp gì?
Sáp ong là loại cổ điển, dẻo, nặn tốt. Thợ thường trộn thêm nhựa thông hay các thứ khác để sáp cứng hơn trong thời tiết nóng. Ngày nay có sáp công nghiệp chuyên cho đúc, chảy sạch, ít tro.
Khuôn cát: nhanh và lặp lại được
Khuôn cát dùng một mẫu bền (bằng gỗ, nhựa, kim loại) đặt trong khung hộp, rồi đầm chặt cát trộn chất kết dính quanh mẫu. Khuôn được chia làm hai nửa theo một mặt phân khuôn. Mở hai nửa, rút mẫu ra, đặt lõi nếu cần, ráp lại và rót.
- Cát tươi: cát trộn đất sét và một ít nước, đầm cho chặt. Rẻ, nhanh, cát dùng lại được. Nhưng vì có nước nên phải kiểm soát độ ẩm rất chặt.
- Cát khô, cát có chất kết dính: cát trộn các chất làm cứng (như thuỷ tinh lỏng thổi khí, hoặc nhựa đóng rắn). Khuôn cứng, mặt mịn hơn, ít ẩm hơn.
Ưu thế của khuôn cát là một mẫu gỗ có thể làm ra hàng trăm khuôn. Vì thế đồ đúc hàng loạt như lư nhỏ, tay nắm, đồ gia dụng thường đi đường này. Nhược điểm là mặt vật hơi sần theo hạt cát, chi tiết nhỏ kém sắc, và hình phải "rút mẫu ra được", tức là không có chỗ lõm ngược.
So sánh ba loại khuôn
| Tiêu chí | Khuôn đất ghép | Khuôn sáp | Khuôn cát |
|---|---|---|---|
| Dùng lại khuôn | Có khi dùng vài lần, thường một lần với vật lớn | Không, đập vỡ lấy vật | Cát dùng lại, khuôn thì làm lại mỗi lần |
| Dùng lại mẫu | Có (dưỡng, mẫu gỗ) | Không, sáp cháy mất | Có, mẫu bền |
| Chi tiết | Tốt, có đường ghép | Tinh nhất, không đường ghép | Vừa phải, mặt sần |
| Hợp với | Chuông, đỉnh, vạc, vật tròn lớn | Tượng, đồ nhiều chi tiết | Đồ làm nhiều chiếc giống nhau |
| Rủi ro chính | Lõi lệch, khuôn ẩm | Sáp cháy không hết, khuôn nứt | Cát ẩm, khuôn sập khi rót |
Trên thực tế, xưởng thường kết hợp: thân tượng đúc khuôn sáp, bệ đúc khuôn cát; chuông đúc khuôn đất, quai chuông hình rồng làm khuôn sáp rồi gắn mẫu vào khuôn chính.
Đọc dấu khuôn trên một món đồ đồng
Người mua hay khách đến làng có thể tự tập nhận ra món đồ đã đi qua khuôn nào:
- Gờ mảnh chạy dọc hai bên ở chỗ khuất: dấu đường ghép khuôn đất hoặc khuôn cát.
- Mặt sần đều như giấy nhám mịn ở chỗ không đánh bóng: dấu hạt cát.
- Chi tiết lõm sâu, khoét ngược, tay rời khỏi thân mà không có mối nối: nhiều khả năng khuôn sáp.
- Vết cắt tròn nhỏ ở đáy hay sau lưng: chỗ cắt cổng rót hoặc đậu ngót.
- Lỗ rỗ li ti thành chùm: khí kẹt lại, thường do khuôn bí hoặc ẩm.
Không dấu nào là bằng chứng tuyệt đối, vì thợ giỏi mài sạch mọi dấu. Nhưng hỏi thợ "món này đúc khuôn gì" kèm chỉ vào dấu vết là cách nhanh nhất để được giải thích tận tình.
Góc nhìn hôm nay và lưu ý an toàn
Ở các làng đúc như Ngũ Xã (Hà Nội), Tống Xá (Ninh Bình), Phước Kiều (Đà Nẵng), cả ba loại khuôn đều còn được dùng, cùng với khuôn vỏ gốm hiện đại (một biến thể của khuôn sáp, nhúng mẫu vào hồ gốm nhiều lần). Lúc đến xem, công đoạn an toàn nhất để quan sát gần là làm mẫu sáp và đắp khuôn. Lúc sấy khuôn và rót đồng thì đứng xa theo chỉ dẫn của thợ.
Nếu muốn thử tạo hình, người mới tập có thể nặn mẫu bằng sáp hoặc đất nặn rồi đặt một xưởng đúc chuyên nghiệp rót giúp. Đừng tự rót kim loại ở nhà: khuôn tự làm rất khó khô kiệt, và đồng lỏng gặp ẩm là bắn. Bỏng nhẹ thì xả nước mát sạch 15–20 phút; bỏng rộng, bỏng sâu, bỏng mắt hay kim loại bắn vào mắt thì gọi 115.
Câu hỏi thường gặp
Đúc khuôn sáp là gì?
Đúc khuôn sáp là làm mẫu vật bằng sáp, phủ đất hoặc vỏ gốm bên ngoài, rồi nung cho sáp chảy và cháy hết. Khoảng trống còn lại đúng hình mẫu được rót kim loại vào. Mỗi khuôn và mỗi mẫu sáp chỉ dùng một lần, đổi lại chi tiết rất tinh.
Khuôn cát và khuôn đất khác nhau thế nào?
Khuôn cát đầm cát trộn chất kết dính quanh một mẫu bền rồi rút mẫu ra, làm được nhiều khuôn từ một mẫu. Khuôn đất đắp từ đất sét pha cát, trấu, phải sấy và nung kỹ, hợp với vật lớn như chuông, đỉnh. Khuôn cát nhanh hơn, khuôn đất cho mặt và hình hợp với vật đúc truyền thống.
Vì sao khuôn đúc phải thật khô?
Vì nước gặp kim loại hơn nghìn độ sẽ hoá hơi tức thì và giãn nở rất mạnh. Hơi nước làm đồng lỏng sôi trào, bắn ra ngoài hoặc làm vỡ khuôn. Đó là tai nạn nặng nhất của nghề đúc, nên thợ sấy khuôn nhiều giờ trước khi rót.
Lõi khuôn dùng để làm gì?
Lõi là khối đặt bên trong khuôn để tạo phần rỗng của vật, như lòng chuông hay bụng tượng. Khoảng cách giữa lõi và áo khuôn quyết định độ dày vách. Lõi phải được giữ đúng tâm, nếu lệch thì vách dày mỏng không đều.
Làm sao biết một món đồ đồng đúc bằng khuôn gì?
Nhìn chỗ khuất: gờ dọc hai bên thường là dấu khuôn ghép, mặt sần đều là dấu cát, chi tiết khoét sâu không mối nối gợi ý khuôn sáp. Thợ giỏi có thể mài sạch dấu nên đây chỉ là gợi ý. Hỏi trực tiếp cơ sở làm là chắc nhất.