Chế TácWiki
Tìm
Làng rèn Việt

Làng rèn Việt Nam: bức tranh chung các làng rèn theo từng vùng miền

Làng rèn Việt trải từ Phúc Sen (Cao Bằng), Đa Sỹ (Hà Nội), Vân Chàng (Ninh Bình) tới lò rèn chợ quê miền Trung, Nam Bộ; mỗi vùng rèn thứ đất đai ở đó cần.

Làng rèn Việt Nam: bức tranh chung các làng rèn theo từng vùng miền

Làng rèn Việt Nam trải từ vùng núi phía Bắc xuống đồng bằng sông Hồng, dọc miền Trung và vào Nam Bộ, mỗi vùng rèn ra thứ mà đất đai và cách làm ăn ở đó cần. Vùng cao nổi tiếng với dao đi rừng và dao phát nương như dao Phúc Sen (Cao Bằng) hay dao của người H'Mông; đồng bằng Bắc Bộ có Đa Sỹ (Hà Nội) chuyên dao kéo gia dụng và Vân Chàng (Ninh Bình) mạnh về nông cụ. Điểm chung của mọi lò rèn là người thợ đọc nhiệt độ thép bằng màu, nghe độ cứng bằng tiếng búa và quyết định độ bền của con dao ở khoảnh khắc trui nước.

Vì sao làng rèn mọc lên ở nơi nó mọc

Một làng rèn sống được khi có ba thứ: nguồn thép (hay sắt), nguồn nhiên liệu và người mua. Thời xưa, quặng sắt và than củi quyết định nhiều. Ngày nay thép phế liệu, đặc biệt là nhíp ô tô, lò xo, thanh ray cũ, có ở khắp nơi, nên yếu tố quyết định chuyển sang người mua: vùng trồng lúa cần liềm, hái, cuốc; vùng nương rẫy cần dao phát, dao quắm; phố thị cần dao bếp, kéo.

Làng rèn cũng thường nằm gần đường giao thương: bến sông, chợ phiên, đường cái. Sản phẩm sắt nặng, nên làng nghề ở đồng bằng hay bám sông, còn ở vùng cao thì bám chợ phiên, nơi đồng bào từ nhiều bản kéo về trao đổi một tuần một lần.

Bản đồ làng rèn theo vùng

Bảng dưới gom những nơi có nghề rèn được nhắc nhiều trong tài liệu làng nghề và báo chí. Đây không phải danh sách đủ: hầu như tỉnh nào cũng có vài lò rèn rải rác ở chợ quê, chỉ là không thành "làng nghề" có tên.

VùngNơi tiêu biểu (tỉnh hiện nay)Sản phẩm chínhNét riêng
Núi phía BắcPhúc Sen (Cao Bằng)Dao phát, dao quắm, dao bếp, liềmNgười Nùng An làm, rèn tay theo nhóm, dao nổi tiếng sắc và bền lưỡi
Núi phía BắcCác bản người H'Mông vùng cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang cũ, nay thuộc Tuyên Quang)Dao, lưỡi cày, cuốcLò rèn gia đình, bễ ống thổi tay, rèn phục vụ chính bản làng
Đồng bằng Bắc BộĐa Sỹ (Hà Nội)Dao bếp, dao chặt, kéoGần phố thị, chuyển sớm sang búa máy, bán đi nhiều tỉnh
Đồng bằng Bắc BộVân Chàng (Ninh Bình, đất Nam Định cũ)Nông cụ, dao, đồ cơ khí nhỏTừ lò rèn phát triển thành xưởng cơ khí, làm cả hàng gia công
Miền Trung, Nam BộLò rèn ở các chợ quê, thị trấnDao rựa, dao phay, cuốc, nông cụÍt làng chuyên, nhiều lò lẻ; thợ Nam Bộ vẫn dùng chữ "trui" cho bước nhúng nước

Ở miền Trung và Nam Bộ có nhiều lò rèn có tiếng ở từng địa phương, nhưng tư liệu công bố về từng làng còn ít và hay lẫn giữa tên làng với tên chợ. Người muốn đi xem tận nơi nên hỏi chính quyền xã hoặc người bán nông cụ ở chợ, họ biết lò nào còn đỏ lửa.

Vùng cao: rèn cho nương rẫy và rừng

Ở vùng núi phía Bắc, con dao là công cụ đa năng nhất trong nhà. Người ta dùng nó phát nương, chặt củi, vót nan, làm thịt, thậm chí đẽo cán cuốc. Vì thế dao vùng cao thường dày sống, nặng đầu, lưỡi không quá mỏng để chịu được va đập vào gỗ cứng và đá lẫn trong đất nương.

Phúc Sen là cái tên được nhắc nhiều nhất. Người Nùng An ở đây rèn theo nhóm: một người giữ phôi và búa nhỏ, một hai người quai búa lớn. Dao Phúc Sen được đi chợ phiên khắp Cao Bằng, Lạng Sơn và xuống tận đồng bằng. Nghề rèn của người Nùng An ở Phúc Sen đã được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Người H'Mông thì có truyền thống rèn trong gia đình. Nhiều bản có lò rèn riêng, bễ là hai ống gỗ có pít-tông kéo tay, thổi luân phiên để lửa không tắt. Lưỡi cày, cuốc, dao đều có thể làm ở lò nhà. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội có trưng bày bộ đồ rèn và nông cụ của nhiều dân tộc vùng cao, rất đáng xem để hình dung.

Đồng bằng Bắc Bộ: rèn cho đồng lúa và bếp phố

Ở đồng bằng, nhu cầu chia rõ hơn. Nhà nông cần liềm gặt, hái, cuốc bàn, mai, thuổng, lưỡi bừa. Nhà phố cần dao thái, dao chặt, kéo cắt vải, kéo tỉa cây. Hai làng nổi bật đi theo hai hướng đó.

Đa Sỹ: gần phố, chuyên dao kéo

Đa Sỹ nằm ở khu Hà Đông, ven sông Nhuệ, cách trung tâm Hà Nội không xa. Vị trí gần phố giúp làng sớm chuyển sang hàng gia dụng: dao bếp, dao chặt xương, kéo. Nhiều xưởng trong làng đã dùng búa máy và máy mài, nhưng các bước như trui lưỡi vẫn dựa vào mắt người thợ. Theo truyền thống làng, nghề rèn ở đây có từ nhiều thế kỷ và làng có nơi thờ tổ nghề.

Vân Chàng: từ lò rèn tới xưởng cơ khí

Vân Chàng thuộc đất Nam Định cũ, nay là tỉnh Ninh Bình. Làng quen làm nông cụ cho vùng lúa đồng bằng sông Hồng, rồi mở rộng sang dao, kéo và các món cơ khí nhỏ. Đây là ví dụ điển hình của làng rèn chuyển mình: từ bễ tay sang búa máy, từ lò than sang máy cắt, máy dập, nhưng vẫn giữ những thợ cả biết đọc màu thép.

Miền Trung và Nam Bộ: lò rèn ở chợ quê

Vào miền Trung, dao rựa thay cho dao phát: lưỡi dài, mũi bằng hoặc hơi quặp, dùng chặt cây, phát bờ rào. Ở Nam Bộ, dao phay (dao bầu to bản) và dao yếm có mặt trong mọi gian bếp. Nghề rèn ở đây ít tập trung thành làng lớn mà rải thành từng lò cạnh chợ, nhận cả làm mới lẫn sửa: hàn lại mũi cuốc, đắp lưỡi rựa mòn, trui lại con dao đã mềm.

Chính thợ rèn Nam Bộ còn giữ chữ trui rất tự nhiên: "trui nước", "trui dầu", "trui lại cây dao". Trui là nung thép tới nhiệt độ nhất định rồi làm nguội thật nhanh, để lưỡi cứng lên. Wiki này dùng chữ "trui" cho bước ấy trong mọi bài.

Cái chung của mọi làng rèn: khoa học vật liệu bằng mắt và tay

Dù ở Cao Bằng hay Ninh Bình, người thợ rèn đều giải cùng một bài toán: làm sao để lưỡi đủ cứng giữ sắc mà thân đủ dẻo không gãy. Thép có carbon. Khi nung đỏ, carbon hoà vào sắt; khi làm nguội thật nhanh, carbon bị "nhốt" lại, thép cứng lên nhưng giòn. Người thợ không có nhiệt kế hay máy đo độ cứng, nên dùng:

  • Màu thép: đỏ sẫm khoảng 600–700°C, đỏ anh đào khoảng 750–850°C, cam khoảng 900–1.000°C. Thợ hay làm trong lán râm vì ngoài nắng thép nóng trông tối hơn thật.
  • Tiếng búa: thép nguội dần thì tiếng gõ đanh hơn, búa nảy hơn, thợ biết lúc phải đưa lại vào lò.
  • Màu ram: sau khi trui, thợ đánh sạch một khoảng thép rồi nhìn màu vàng rơm, nâu, tím chạy dần để biết lúc dừng.
  • Giũa: kéo nhẹ cạnh giũa qua lưỡi, giũa trượt là lưỡi đã cứng, giũa cắn là còn mềm.

Danh mục "Thép, nhiệt luyện & dao" trên wiki này đi sâu từng bước. Ở đây chỉ cần nhớ: cái tài của làng rèn không nằm ở chỗ đập mạnh, mà ở chỗ biết dừng đúng lúc.

Đi xem làng rèn: nên xem gì, giữ an toàn thế nào

Lò rèn là chỗ làm việc thật, không phải điểm tham quan dựng sẵn. Muốn xem thì đi buổi sáng, khi lò đỏ và thợ đang làm, hỏi xin phép trước khi đứng gần hay chụp ảnh.

  1. Xem bước trui: lúc thợ nhúng lưỡi dao đỏ vào nước, tiếng xèo và làn hơi bốc lên là khoảnh khắc quyết định độ cứng.
  2. Hỏi thép gì: thợ thường nói thẳng là thép nhíp, thép lò xo hay thép tấm. Đó là thông tin quý khi chọn dao.
  3. Đứng xa vùng quai búa: vảy ôxít bắn ra khi đập thép đỏ có thể gây bỏng, nhất là vào mắt. Đứng ngoài tầm búa vài bước, đeo kính nếu được đưa.
  4. Không chạm vào phôi vừa đặt xuống: thép đã hết đỏ vẫn có thể nóng vài trăm độ, đủ gây bỏng sâu.
  5. Để ý thông gió: lò than trong lán kín sinh khí CO không màu không mùi. Thấy đau đầu, chóng mặt thì ra chỗ thoáng ngay.

Nếu bị bỏng nhẹ, xả nước mát sạch liên tục 15–20 phút, không bôi kem đánh răng, nước mắm hay mỡ. Bỏng rộng, bỏng sâu, bỏng ở mặt, tay, mắt hoặc có mảnh kim loại bắn vào mắt thì đi cấp cứu, gọi 115.

Cũng nên nhớ một điều về pháp luật: dao, kiếm, mã tấu thuộc nhóm vũ khí thô sơ có quy định riêng. Làng rèn hôm nay làm dao bếp, dao nông cụ, dao đi rừng và công cụ; mua về dùng đúng việc của nó.

Góc nhìn hôm nay: làng rèn còn gì để học

Nhiều lò rèn đã tắt vì nông cụ công nghiệp làm hàng loạt, đồng đều hơn. Nhưng những làng còn sống lại cho thấy một điều: con dao rèn tay vẫn có chỗ đứng khi người mua hiểu vì sao nó khác. Người đi làng nghề có thể làm vài việc nhỏ mà có ích: mua trực tiếp từ lò, hỏi kỹ cách giữ dao để dùng được lâu, và kể lại đúng những gì mình thấy.

Muốn tìm hiểu thêm có thể bắt đầu từ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (bộ sưu tập nông cụ, đồ rèn các dân tộc), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (đồ sắt thời cổ), các nghiên cứu về làng nghề và văn hoá làng của Trần Quốc Vượng, rồi tra Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để biết nghề nào đã được ghi danh.

Câu hỏi thường gặp

Làng rèn nổi tiếng nhất Việt Nam ở đâu?

Ba cái tên được nhắc nhiều nhất là Phúc Sen (Cao Bằng) với dao của người Nùng An, Đa Sỹ (Hà Nội) với dao kéo gia dụng và Vân Chàng (Ninh Bình) với nông cụ. Mỗi làng mạnh một loại hàng, nên "nổi tiếng nhất" tuỳ người hỏi cần dao gì.

Trui thép là gì?

Trui là nung thép tới nhiệt độ nhất định rồi làm nguội thật nhanh, thường bằng nước hoặc dầu, để thép cứng lên. Sau khi trui, thép giòn, nên thợ còn ram lại ở nhiệt độ thấp hơn để lưỡi bớt giòn mà vẫn giữ sắc.

Dao rèn tay khác dao công nghiệp thế nào?

Dao công nghiệp thường cắt từ thép tấm rồi nhiệt luyện trong lò điều khiển, nên đều tay. Dao rèn tay dày sống, nặng đầu hơn, thường làm từ thép lò xo và được trui lưỡi theo mắt thợ, nên chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề từng lò.

Có thể đến xem làng rèn không?

Được, nhưng nên coi đó là chỗ làm việc thật. Đi buổi sáng, xin phép trước khi chụp ảnh, đứng xa vùng quai búa và không chạm vào thép vừa rèn vì nó vẫn nóng dù đã hết đỏ.

Vì sao thợ rèn hay làm việc trong lán tối?

Vì màu thép nung là cách thợ đoán nhiệt độ. Ngoài nắng, thép nóng trông tối hơn thật, dễ làm thợ nung quá tay. Trong lán râm, đỏ sẫm, đỏ anh đào và cam hiện rõ hơn.

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác

Bài viết liên quan

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác Xem app khác