Chế TácWiki
Tìm
Đúc đồng

Làng đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội) và những pho tượng đồng lớn

Ngũ Xã ven hồ Trúc Bạch do thợ năm làng vùng Văn Lâm xưa lập nên. Làng nổi tiếng với tượng lớn như tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh đúc năm 1677 và tượng chùa Thần Quang.

Làng đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội) và những pho tượng đồng lớn

Ngũ Xã là làng đúc đồng nằm ven hồ Trúc Bạch, giữa lòng Hà Nội, do thợ đúc từ năm làng ở vùng Văn Lâm xưa (nay thuộc Hưng Yên) lên kinh thành lập phường mà thành tên. Làng nổi tiếng nhất với các pho tượng đồng cỡ lớn, trong đó có tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh, đúc năm 1677. Ngày nay lò đúc lớn trong phố đã thưa đi nhiều, nhưng tên Ngũ Xã vẫn gắn với nghề đồng của Thăng Long.

Năm làng thành một phường

"Ngũ Xã" nghĩa đen là năm xã. Theo truyền thống của làng, vào khoảng thời Lê, thợ đúc đồng từ năm làng có nghề ở vùng Văn Lâm xưa rủ nhau lên Thăng Long làm ăn. Họ dựng nhà ở một dải đất sát hồ, lập thành phường thủ công và lấy luôn tên "năm xã" để nhớ gốc. Mốc năm cụ thể của việc di cư thì các nguồn kể không thống nhất, nên chỉ có thể nói là nhiều thế kỷ trước.

Đây là mô hình rất quen của kinh thành xưa. Thợ thủ công ở các làng quanh vùng lên Thăng Long, tụ lại theo nghề, mỗi nghề một phường: thợ bạc, thợ thiếc, thợ nhuộm, thợ đồng. Nhiều tên phố cổ Hà Nội hôm nay vẫn còn dấu vết của lối tụ cư này. Điểm riêng của Ngũ Xã là nó không nằm trong khu phố buôn bán, mà ở rìa hồ, vì nghề đúc cần đất rộng cho lò và khuôn, cần nước, và cần tránh xa nhà cửa đông đúc vì khói lửa.

Như nhiều làng đúc phía Bắc, Ngũ Xã thờ Nguyễn Minh Không làm tổ nghề. Câu chuyện vị thiền sư thời Lý mang nghề đúc về là truyền thuyết và thần phả, được kể ở bài riêng về tổ nghề đúc đồng; ở đây chỉ cần biết đó là sợi dây tín ngưỡng nối các làng đúc với nhau.

Vì sao kinh thành cần một làng đúc ngay cạnh

Đồ đồng cỡ lớn rất khó chở. Một pho tượng vài tấn, một quả chuông lớn mà đúc ở nơi xa thì vận chuyển bằng thuyền, bằng xe trâu đều vất vả và dễ hỏng. Đặt lò đúc ngay sát kinh thành, nơi tập trung chùa, đền, quán lớn, là cách giải bài toán vận chuyển.

Thêm nữa, kinh thành là nơi tập trung đồng: đồ cũ, đồ hỏng, đồ cung tiến. Thợ ở gần nguồn nguyên liệu và gần người đặt hàng. Lời đặt đúc tượng, đúc chuông thường đến từ triều đình, từ chùa quán và từ các làng quanh vùng góp đồng công đức.

Tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh

Công trình hay được nhắc nhất khi nói tới Ngũ Xã là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ trong đền Quán Thánh, cách hồ Trúc Bạch không xa. Theo các tài liệu giới thiệu di tích, tượng được đúc năm 1677, thời vua Lê Hy Tông, cao gần 4 mét kể cả bệ, nặng khoảng 4 tấn. Tượng ngồi, một tay bắt ấn, một tay chống kiếm, chân đặt lên lưng rùa có rắn quấn. Việc đúc tượng được ghi nhận là của thợ đúc đồng phường Ngũ Xã.

Với người làm nghề, cái đáng nể không chỉ ở kích thước. Một vật đúc nặng cỡ đó đòi hỏi:

  • Nhiều lò nấu cùng lúc. Một nồi nấu không đủ chứa vài tấn đồng. Thợ phải đốt nhiều lò, canh cho các mẻ đồng cùng đạt độ loãng rồi rót gần như liên tục. Rót ngắt quãng thì lớp đồng trước đã nguội, lớp sau đổ vào không liền, thành vết nối lạnh.
  • Khuôn chịu áp lực. Cột đồng lỏng cao vài mét tạo áp lực rất lớn lên đáy khuôn. Khuôn thường được chôn trong hố, lèn đất chặt xung quanh để không bị bục.
  • Lõi đứng vững. Lõi trong lòng tượng phải giữ đúng vị trí, nếu không vách tượng chỗ dày chỗ mỏng, có chỗ thủng.

Tượng Trấn Vũ vẫn ở trong đền và người ta có thể vào xem. Đứng gần, để ý màu đồng sẫm đen bóng do thời gian và tay người chạm, và độ liền của bề mặt: không thấy vết nối lớn trên thân tượng.

Tượng A Di Đà ở chùa Thần Quang

Ngay trong làng có chùa Thần Quang, người Hà Nội quen gọi chùa Ngũ Xã. Trong chùa có pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng rất lớn, do thợ trong làng đúc năm 1952. Tài liệu giới thiệu thường ghi tượng cao khoảng 3,95 mét, nặng khoảng 12 tấn, được coi là một trong những pho tượng đồng lớn nhất được đúc ở Việt Nam thời đó. Người làng góp đồng, góp công, đúc tượng tại chỗ.

So hai pho tượng sẽ thấy một điều thú vị: cách nhau gần ba thế kỷ, cả hai đều được đúc bằng phương pháp khuôn đất truyền thống, nhóm lò thủ công, rót bằng tay. Kỹ thuật cốt lõi không đổi nhiều; cái đổi là quy mô, nguồn đồng và cách tổ chức thợ.

Thợ Ngũ Xã làm gì: từ mẫu tới lớp màu cuối

Một pho tượng đi qua tay nhiều người, mỗi người một việc:

  1. Làm mẫu: nặn bằng đất hoặc sáp. Người làm mẫu quyết định thần thái của tượng, nên thường là người có tay nghề cao nhất.
  2. Làm khuôn: đắp lõi, đắp áo, chia mảnh, sấy và nung khuôn. Đây là công đoạn dài nhất.
  3. Nấu và rót: canh lò, khử xỉ, rót đồng. Việc này cần nhiều người phối hợp, chỉ huy bởi thợ cả.
  4. Sửa nguội: phá khuôn, cắt cổng rót, đục bỏ gờ khuôn, hàn vá chỗ rỗ, giũa, mài.
  5. Hoàn thiện bề mặt: đánh bóng, hoặc xử lý cho đồng sẫm màu. Hoa văn chạm thêm (nếu có) là việc của thợ chạm, thuộc một nghề khác.

Ngoài tượng lớn, thợ Ngũ Xã còn làm đồ thờ như đỉnh, lư hương, hạc, đèn, và nhiều đồ đồng gia dụng. Nhưng tiếng tăm làng chủ yếu đến từ tượng: kinh nghiệm làm khuôn và rót những khối đồng nặng là thứ không dễ học.

Ngũ Xã hôm nay

Ngũ Xã nay là phố phường giữa trung tâm, nhà cửa san sát, đất đắt. Lò đúc cần chỗ rộng, sinh khói và tiếng ồn, nên nhiều nguồn ghi nhận nghề đúc trong phố đã thu hẹp rất nhiều so với trước; một số gia đình thợ chuyển xưởng ra ngoại thành hoặc làm theo đơn đặt hàng. Khách đến Ngũ Xã hôm nay sẽ thấy cửa hàng đồ đồng, nhà thờ tổ, chùa làng, và nếu may mắn và được phép, một xưởng nhỏ đang làm.

Đây cũng là chuyện chung của các làng nghề bị đô thị bao quanh: nghề còn trong ký ức và trong tên đất, còn xưởng thì phải đi nơi khác. Tống Xá (Ninh Bình), nơi đất rộng hơn, đã đón nhiều đơn đúc tượng lớn trong những thập niên gần đây.

Đi Ngũ Xã: xem gì, hỏi gì

  • Đền Quán Thánh: xem tượng Trấn Vũ, để ý độ liền của đồng và lớp màu sẫm tự nhiên.
  • Chùa Thần Quang: xem tượng A Di Đà lớn, hỏi người trông chùa về chuyện làng góp đồng đúc tượng.
  • Các cửa hàng đồ đồng trong phố: hỏi món nào làm tại chỗ, món nào đặt nơi khác; món nào đúc, món nào gò.

Mẹo nhỏ khi xem đồ trong cửa hàng: lật đáy. Đồ đúc khuôn đất thường còn dấu cắt cổng rót và đôi chỗ rỗ li ti chưa đánh hết. Đồ mạ màu đồng trên nền kim loại khác thường lộ ở mép trầy. Không cần mua vẫn có thể hỏi; người bán có nghề thường thích giải thích.

Nếu có dịp thấy rót đồng, đứng ở chỗ thợ chỉ, không chạm vào khuôn hay dụng cụ dù trông đã nguội, và tuyệt đối không để nước, đồ uống gần khu rót: đồng lỏng gặp ẩm là bắn.

Câu hỏi thường gặp

Làng đúc đồng Ngũ Xã ở đâu?

Ngũ Xã nằm ven hồ Trúc Bạch, gần đền Quán Thánh, ở trung tâm Hà Nội. Làng do thợ đúc từ năm làng vùng Văn Lâm xưa lên lập phường, nên gọi là Ngũ Xã. Nay nơi đây là khu phố, xưởng đúc đã thu hẹp nhiều.

Tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh nặng bao nhiêu?

Theo tài liệu giới thiệu di tích, tượng Huyền Thiên Trấn Vũ cao gần 4 mét kể cả bệ, nặng khoảng 4 tấn. Tượng được đúc năm 1677 thời Lê Hy Tông, do thợ phường đúc Ngũ Xã thực hiện. Tượng vẫn được thờ trong đền và khách có thể vào xem.

Chùa Ngũ Xã có gì đặc biệt?

Chùa Ngũ Xã, tên chữ là chùa Thần Quang, có pho tượng A Di Đà bằng đồng rất lớn do thợ làng đúc năm 1952. Tượng thường được ghi là cao khoảng 3,95 mét, nặng khoảng 12 tấn. Đây là dấu tích rõ nhất về tay nghề đúc tượng lớn của làng.

Ngũ Xã còn làm nghề đúc đồng không?

Còn một số gia đình giữ nghề, nhưng lò đúc lớn trong phố đã ít đi nhiều do đất chật và yêu cầu về khói, tiếng ồn. Nhiều xưởng chuyển ra ngoại thành hoặc nhận đơn rồi đúc ở nơi khác. Khách nên hỏi trước nếu muốn xem xưởng đang làm.

Ngũ Xã thờ ai làm tổ nghề?

Theo truyền thuyết và thần phả, Ngũ Xã cũng như nhiều làng đúc phía Bắc thờ Nguyễn Minh Không, vị thiền sư thời Lý, làm tổ nghề đúc đồng. Đây là tín ngưỡng làng nghề, không phải sử liệu chắc chắn về người dạy nghề đúc đầu tiên.

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác

Bài viết liên quan

Mở app Chế Tác

Nung thép theo màu, vuốt gốm, rót đồng — vào bảy làng nghề

Mở app Chế Tác Xem app khác