Lệ làng giữ nghề là những quy ước, thành văn trong hương ước hay truyền miệng, quy định ai được học nghề, bí quyết được giữ thế nào và người trong nghề phải kiêng gì. Mục đích chính là giữ miếng ăn của cả làng: không để bí quyết lọt ra ngoài, không để người cùng nghề phá giá, làm hàng gian. Nhiều điều kiêng kỵ nghe như chuyện tâm linh nhưng thực chất là kinh nghiệm an toàn và chất lượng được nói theo cách dễ nhớ.
Lệ làng nghề được ghi ở đâu
Làng Việt xưa tự quản bằng hương ước, còn gọi khoán ước: văn bản quy định việc làng, từ đóng góp, cúng tế tới phạt vạ. Ở làng nghề, bên cạnh hương ước chung còn có lệ của phường, hội thợ. Có lệ được viết ra và khắc bia, có lệ chỉ truyền miệng.
- Hương ước làng: thường nói về nghĩa vụ chung, lễ tế tổ nghề, việc đóng góp cho đình.
- Lệ phường, lệ hội thợ: quy định vào phường, học việc, chia việc, giá công, xử phạt người phạm lệ.
- Gia pháp dòng họ: nơi giữ bí quyết thật sự, vì nghề thường truyền theo họ, theo nhà.
Nhiều văn bản hương ước đã được các viện nghiên cứu sưu tầm, dịch và công bố. Người muốn đọc nguyên văn có thể tìm các tập hương ước đã xuất bản hoặc hỏi thư viện chuyên ngành Hán Nôm.
Truyền nghề: ai được học, học thế nào
Truyền trong nhà, trong họ
Cách truyền nghề phổ biến nhất là cha dạy con, chú dạy cháu. Đứa trẻ lớn lên trong xưởng, việc đầu tiên là phụ: nhặt than, nhào đất, đánh bóng, quạt bễ. Kỹ năng thấm dần qua mắt trước khi qua tay. Không có giáo trình; thầy làm, trò nhìn, rồi trò làm, thầy sửa.
"Truyền dâu không truyền gái"
Ở nhiều làng nghề Bắc Bộ, các nhà nghiên cứu ghi lại tục chỉ dạy nghề cho con trai và con dâu, không dạy con gái. Lý do được giải thích thẳng: con gái lấy chồng làng khác sẽ mang nghề đi. Tục này phản ánh rõ cách nghĩ coi nghề là tài sản của làng, gắn với đất, không gắn với cá nhân. Ngày nay tục này đã phai nhạt nhiều; ở nhiều làng, phụ nữ là thợ chính, thợ giỏi.
Học việc ở nhà thầy
Người ngoài họ muốn học thường phải ở nhà thầy nhiều năm, làm việc vặt, được nuôi ăn mà không có công. Thời gian này vừa là học nghề, vừa là thử lòng: thầy chỉ dạy phần khó khi đã tin học trò. Ở nhiều phường xưa, học trò còn phải làm lễ ra mắt tổ và nộp lệ cho phường thì mới được hành nghề.
Bí quyết nghề: giữ cái gì, giữ ra sao
Không phải mọi thứ trong nghề đều là bí mật. Cái được giữ kỹ thường là những thứ khó đoán ra dù đứng xem tận nơi:
| Nghề | Thứ hay được giữ kín | Vì sao khó học lỏm |
|---|---|---|
| Gốm | Cách pha men, nguồn đất, cách xếp lò | Nhìn bát thành phẩm không đoán được tỷ lệ tro, đá, đất trong men |
| Đúc đồng | Tỷ lệ hợp kim, cách làm khuôn, độ dày vách chuông | Tiếng chuông phụ thuộc vào những con số không ai nói ra |
| Rèn | Chọn thép, nhiệt độ trui, môi chất trui | Người xem chỉ thấy thép đỏ nhúng nước, không biết thợ chờ màu nào |
| Kim hoàn | Cách tinh luyện, cách hàn không lộ mối | Thao tác nhỏ, nhanh, phụ thuộc cảm giác tay |
| Dệt | Cách lên go, cách xử lý sợi | Phần chuẩn bị diễn ra trước khi khách tới |
Cách giữ bí quyết cũng rất đời thường: pha men khi chỉ có người nhà, không ghi chép, gọi nguyên liệu bằng tên lóng, chia công đoạn cho nhiều người để không ai nắm trọn. Có thợ cả chỉ dạy phần cuối cùng cho người con trai trưởng khi đã lớn tuổi.
Mặt trái của lối giữ nghề này là bí quyết dễ mất. Một người thợ cả ra đi mà chưa kịp truyền thì một dòng men, một cách đúc có thể biến mất. Nhiều chuyện "tìm lại dòng gốm", "phục dựng kỹ thuật" ngày nay chính là hệ quả của việc ấy.
Kiêng kỵ trong xưởng: đọc ra bài học thật
Mỗi nghề, mỗi làng có những điều kiêng riêng. Dưới đây là vài điều kiêng hay được nhắc ở các xưởng lửa, kèm cách đọc theo lối "vì sao thợ làm vậy". Đây là cách diễn giải, không phải lời giải thích chính thức của làng.
- Kiêng người lạ vào khu lò lúc đốt hay lúc rót. Giữ bí mật là một lẽ; lẽ khác là khu lò nóng, chật, người không quen dễ vấp, dễ chạm vào vật nóng.
- Kiêng nói gở, cãi nhau khi đốt lò. Mẻ lò cần tập trung nhiều giờ liền; xưởng ồn ào, mất tập trung là lửa lệch, mẻ hỏng.
- Kiêng đổ nước, để nước gần nồi đồng. Đây gần như là luật sống còn của nghề đúc: nước gặp kim loại lỏng hoá hơi đột ngột, có thể bắn đồng nóng ra xung quanh.
- Kiêng bước qua, ngồi lên đồ nghề. Ở có nơi, bước qua búa, ngồi lên đe bị coi là bất kính với tổ. Thực tế, đồ nghề để giữa lối đi là thứ dễ làm vấp ngã cạnh lò.
- Kiêng mở lò sớm. Người nóng ruột mở cửa lò khi gốm còn rất nóng, khí lạnh ùa vào làm đồ nứt. Lệ "chưa đủ ngày không mở lò" giữ cho mẻ gốm nguội đủ chậm.
Cũng có những kiêng kỵ không có lý do kỹ thuật, nhất là những điều liên quan tới phụ nữ ở khu lò ở một số nơi. Các lệ này phản ánh quan niệm xã hội thời trước; nhiều xưởng ngày nay đã bỏ.
Lệ chống phá giá và làm hàng gian
Lệ làng nghề không chỉ giữ bí quyết mà còn giữ trật tự thị trường. Các phường xưa thường quy định:
- Không tranh khách của nhau, không hạ công để giành việc.
- Hàng phải đúng chuẩn của làng; ai làm hàng kém mang tên làng thì bị phạt.
- Không nhận làm hàng giả, nhất là ở các nghề liên quan tới tiền bạc, vàng bạc.
Cách phạt tuỳ làng: nộp tiền, nộp lễ, bị cấm hành nghề trong phường, nặng nhất là bị đuổi khỏi phường. Một người thợ bị phường đuổi gần như mất đường sống, nên lệ có sức nặng thật.
Góc nhìn hôm nay: lệ làng gặp luật và thị trường
Nhiều chức năng của lệ làng ngày nay được thay bằng công cụ khác:
- Giữ danh tiếng chung: một số làng nghề đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm, để hàng làm nơi khác không được mạo danh.
- Truyền nghề: ngoài truyền trong nhà, có lớp dạy nghề, trường nghề, và các nghệ nhân được nhà nước vinh danh nhận truyền dạy.
- Giữ bí quyết: thay vì giữ kín tuyệt đối, có cơ sở chọn cách công bố một phần để quảng bá, giữ phần cốt lõi.
Với khách đi làng nghề và người tập làm, lệ làng vẫn có một bài học dùng được ngay: tôn trọng khu làm việc của thợ. Không tự đi vào khu lò, không chụp ảnh công thức hay sổ ghi chép nếu chưa được phép, không hỏi dồn về tỷ lệ pha. Hỏi "vì sao làm vậy" thường được trả lời cởi mở hơn hỏi "pha bao nhiêu".
Ai muốn tìm hiểu kỹ có thể đọc các công trình về văn hoá làng của Trần Quốc Vượng, các tập hương ước làng Việt đã được dịch và xuất bản, và ghé Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam để xem cách các cộng đồng tổ chức nghề.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao làng nghề xưa không truyền nghề cho con gái?
Ở nhiều làng, nghề được coi là tài sản chung của làng. Con gái lấy chồng làng khác có thể mang nghề đi, nên có tục truyền cho con dâu mà không truyền cho con gái. Tục này nay đã phai nhạt nhiều.
Hương ước làng nghề quy định những gì?
Hương ước quy định việc chung của làng như cúng tế, đóng góp, phạt vạ. Ở làng nghề còn có lệ phường quy định học việc, vào phường, giá công, chống phá giá và làm hàng gian. Một số làng ghi lệ thành văn, khắc bia.
Kiêng kỵ trong xưởng nghề có cơ sở không?
Nhiều điều kiêng có cơ sở thực tế, như kiêng để nước gần nồi kim loại nóng chảy hay kiêng mở lò gốm sớm. Một số điều kiêng khác chỉ phản ánh quan niệm xã hội cũ. Cách hay là hỏi thợ vì sao kiêng để hiểu bài học bên trong.
Bí quyết nghề truyền thống hay bị mất vì sao?
Vì bí quyết thường chỉ truyền miệng trong một số ít người và không được ghi chép. Người nắm bí quyết qua đời mà chưa truyền thì kỹ thuật mất theo. Nhiều dự án phục dựng kỹ thuật cổ hiện nay đi lên từ khảo cổ và thử nghiệm.