Các kiểu đan cơ bản trong đan lát Việt Nam gồm lóng mốt (nan đè một, luồn một, mặt đan ô vuông), lóng đôi (nan đè hai, luồn hai, lệch dần tạo đường chéo), lóng ba và các lóng lớn hơn, mắt cáo (nan đi theo ba hướng, tạo lỗ sáu cạnh) và đan xoắn (nan quấn vòng quanh các nan cốt). Mỗi kiểu là một lời giải cho một bài toán cụ thể: kín hay thoáng, cứng hay mềm, phẳng hay cong. Nhìn mặt đan là đoán được chiếc rổ, cái nong được làm để đựng gì.
Hai câu hỏi trước khi đan
Người thợ đan không chọn kiểu đan theo sở thích. Họ trả lời hai câu: đồ này cần kín tới mức nào (đựng gạo, phơi thóc hay để ráo nước), và cần chịu lực kiểu gì (đè nặng, va đập, hay chỉ cần nhẹ). Từ đó chọn kiểu đan, rồi mới chọn cỡ nan.
Lóng mốt: đè một, luồn một
Lóng mốt là kiểu đơn giản nhất: nan ngang đè lên một nan dọc, luồn xuống dưới nan dọc kế tiếp, cứ thế xen kẽ. Đường sau làm ngược lại. Mặt đan thành bàn cờ ô vuông nhỏ. Đây chính là kiểu dệt vân điểm của vải, chỉ khác là vật liệu là nan chứ không phải sợi.
Lóng mốt có số điểm giao nhiều nhất trên một diện tích, nên nan khoá nhau chặt, mặt đan phẳng, khó xô lệch. Nhược điểm: nan bị uốn lên xuống liên tục, với nan tre dày thì khó đan và dễ gãy; mặt đan kém mềm. Vì thế lóng mốt hợp với nan mỏng, đồ nhỏ, mặt phẳng: tấm lót, hộp, mặt khay.
Lóng đôi, lóng ba: đường chéo của sức bền
Lóng đôi: nan ngang đè hai nan dọc rồi luồn hai nan, mỗi đường sau lệch đi một nan. Kết quả là các điểm giao xếp thành đường chéo chạy xiên trên mặt đan, như kiểu dệt vân chéo của vải. Lóng ba thì đè ba, luồn ba.
So với lóng mốt, lóng đôi có ít điểm giao hơn, nan được uốn nhẹ hơn, nên đan được nan dày hơn mà không gãy, mặt đan mềm hơn, uốn theo dáng cong tốt hơn. Nan nằm sát nhau, mặt đan kín. Vì vậy nong, nia, thúng, mẹt, những đồ cần mặt kín để đựng thóc gạo, hay dùng lóng đôi hoặc lóng ba.
Đổi chiều lệch giữa chừng, thợ tạo ra những đường chéo gấp khúc, hình xương cá, hình thoi trên mặt đan. Đó là cách trang trí tự nhiên nhất của đồ đan: không thêm vật liệu, chỉ đổi nhịp đè luồn.
Mắt cáo: ba hướng nan, lỗ sáu cạnh
Mắt cáo khác hẳn hai kiểu trên vì nan không chỉ đi hai hướng vuông góc mà đi ba hướng, lệch nhau khoảng 60 độ. Ba lớp nan đan cài vào nhau để lại những lỗ hình sáu cạnh đều.
Về cơ học, đây là kiểu đan rất thông minh. Hình tam giác do ba hướng nan tạo ra là hình khó biến dạng nhất, nên tấm đan mắt cáo cứng, ít xô lệch dù lỗ to. Nó dùng ít nan mà vẫn chắc, nhẹ, thoáng. Vì vậy mắt cáo hợp với đồ cần ráo nước, cần thoáng khí: rổ rửa rau, lồng, giỏ đựng cá, sọt. Nhìn chiếc rổ mắt cáo là thấy ngay ý đồ: nước chảy qua, nan vẫn giữ.
Đan xoắn: quấn quanh cốt
Đan xoắn dùng hai loại nan: nan cốt (nan sườn) xếp toả ra như nan hoa, và nan đan mềm, mảnh, quấn vòng qua lại quanh các nan cốt, có khi hai sợi xoắn vào nhau giữa mỗi nan cốt. Kiểu này hay dùng cho đáy tròn, thân giỏ tròn, nơm, đó, và với vật liệu mềm như mây, giang, lục bình.
Ưu điểm lớn của đan xoắn là tạo được dáng tròn, dáng phình một cách tự nhiên: chỉ cần nới hay khép nan cốt. Hai sợi xoắn khoá nhau ở mỗi nan cốt, nên mặt đan chắc dù nan đan mảnh.
Bảng chọn nhanh
| Kiểu đan | Mặt đan | Kín/thoáng | Hợp với |
|---|---|---|---|
| Lóng mốt | Ô vuông nhỏ | Kín vừa | Đồ phẳng nhỏ, nan mỏng |
| Lóng đôi, lóng ba | Đường chéo | Kín | Nong, nia, thúng, mẹt |
| Mắt cáo | Lỗ sáu cạnh | Thoáng | Rổ rửa, lồng, sọt, giỏ cá |
| Đan xoắn | Vòng quấn quanh cốt | Tuỳ khoảng nan | Đáy tròn, giỏ tròn, nơm, đó |
Cạp và nức: chỗ quyết định độ bền
Đồ đan hỏng thường bắt đầu từ miệng, vì đó là nơi đầu nan bị cắt, dễ bung. Người thợ giải bằng cạp và nức: kẹp miệng đồ đan giữa hai vòng tre hay mây (nức), rồi buộc chặt bằng lạt hay bì mây quấn quanh. Cạp tốt thì đồ đan bền hàng chục năm; cạp ẩu thì vài tháng đã bung.
Khi mua đồ đan, nhìn cạp trước: vòng nức chắc, lạt quấn đều và khít, không có đầu nan thò ra.
Làm kín đồ đan: thúng chai, gầu sòng
Đan dù kín tới đâu vẫn lọt nước. Để đựng được nước hay làm thuyền, người xưa trét lên mặt đan một lớp chất kín: phân trâu trộn, nhựa cây, dầu rái. Thúng chai, gầu sòng, thuyền thúng ven biển miền Trung là đồ đan được làm kín theo cách đó. Cấu trúc đan chịu lực, lớp trét chịu nước: một vật liệu hai lớp đúng nghĩa.
Những lỗi đan dễ nhận ra
- Nan bị lệch nhịp: một chỗ đè hai thay vì đè một, phá vỡ hoa văn, tạo điểm yếu.
- Nan không đều bản: mắt đan to nhỏ khác nhau, mặt đan gợn.
- Đan quá lỏng: ấn tay vào mặt đan thấy nan trượt, khe hở rộng ra.
- Đầu nan thò ra: ở miệng hay chỗ nối, dễ cào xước tay và là chỗ bắt đầu bung.
Đọc một chiếc rổ cũ: bài tập nhỏ
Lấy một chiếc rổ, cái nia hay chiếc giỏ đang có trong nhà và tự trả lời mấy câu:
- Mặt đan là ô vuông, đường chéo, lỗ sáu cạnh hay vòng xoắn?
- Đáy và thân có cùng một kiểu đan không? Nhiều đồ đan dùng kiểu này cho đáy, kiểu khác cho thân.
- Miệng được cạp bằng gì: tre, mây, hay nhựa? Lạt quấn kín hay thưa?
- Nan mặt ngoài là cật bóng hay bụng mờ?
- Đồ dùng để làm gì, và kiểu đan có hợp với việc ấy không?
Làm bài tập này với ba bốn món đồ khác nhau, người đọc sẽ tự rút ra quy luật mà thợ đan đã biết từ lâu: đồ cần thoáng thì mắt cáo, đồ cần kín thì lóng đôi, đồ tròn thì đan xoắn, miệng nào cũng phải cạp chắc.
Tập đan: bắt đầu từ lóng mốt
- Người mới, kể cả trẻ từ 8 tuổi có người lớn kèm, nên tập lóng mốt với nan giấy, nan cói hay nan tre đã vót sẵn, cạnh nhẵn.
- Sau đó thử lóng đôi trên tấm nhỏ để thấy đường chéo hiện ra.
- Mắt cáo khó hơn, nên tập với nan mảnh, dẻo, xếp ba hướng trên mặt bàn.
- Nan tre tươi rất sắc. Việc chẻ và vót nan để người lớn làm; đeo găng vải mỏng khi vuốt nan.
Câu hỏi thường gặp
Đan lóng mốt là gì?
Đan lóng mốt là kiểu nan ngang đè lên một nan dọc rồi luồn xuống dưới nan dọc kế tiếp, xen kẽ liên tục. Mặt đan thành ô vuông nhỏ, phẳng và chắc, hợp với nan mỏng và đồ phẳng.
Lóng đôi khác lóng mốt thế nào?
Lóng đôi đè hai nan, luồn hai nan và lệch dần một nan mỗi đường, tạo đường chéo trên mặt đan. Nan được uốn nhẹ hơn nên đan được nan dày, mặt đan kín và mềm hơn, hợp nong nia, thúng mẹt.
Đan mắt cáo là gì?
Đan mắt cáo là kiểu đan với nan đi theo ba hướng, tạo lỗ sáu cạnh đều. Các tam giác do nan tạo ra giúp mặt đan cứng, khó xô lệch dù thoáng, nên hay dùng cho rổ rửa, lồng, sọt.
Cạp rổ là gì?
Cạp là việc kẹp miệng đồ đan giữa hai vòng tre hay mây gọi là nức, rồi buộc chặt bằng lạt hoặc bì mây. Cạp giữ cho đầu nan ở miệng không bung, là chỗ quyết định độ bền của đồ đan.