Nông cụ rèn như liềm, cuốc, mai, thuổng, xẻng và lưỡi cày được làm theo cùng một nguyên tắc: lưỡi phải đủ cứng để cắt đất, cắt cỏ lâu cùn, còn thân và họng tra cán phải dẻo để chịu va đập vào đá sỏi mà không nứt gãy. Mỗi món có một chỗ khó riêng: liềm cần răng đều và mỏng, cuốc cần họng tra cán chắc, lưỡi cày phải chịu mài mòn liên tục trong đất. Biết những chỗ khó ấy giúp người mua chọn được nông cụ bền và biết cách giữ nó qua nhiều mùa.
Nông cụ nào thường được rèn
| Nông cụ | Phần làm việc | Đòi hỏi chính | Chỗ dễ hỏng |
|---|---|---|---|
| Liềm | Lưỡi cong mỏng, nhiều nơi có răng | Mỏng, cứng, răng đều | Gãy răng, mẻ lưỡi, lỏng chuôi |
| Hái | Lưỡi cong gắn vào cán gỗ dài | Lưỡi sắc, cán vững | Lỏng lưỡi khỏi cán |
| Cuốc bàn | Bản rộng, họng tra cán | Lưỡi cứng, thân dẻo, họng chắc | Nứt họng, mòn vẹt lưỡi |
| Cuốc chim | Một đầu nhọn, một đầu dẹt | Mũi cứng, không gãy | Gãy mũi, toè mũi |
| Mai, thuổng | Lưỡi dày, dài, gắn cán thẳng | Không oằn khi đạp, lưỡi sắc | Oằn lưỡi, nứt chỗ nối cán |
| Xẻng | Lá thép lõm, họng tra cán | Nhẹ, cứng vừa | Rách mép, nứt họng |
| Lưỡi cày | Mũi nhọn rạch đất | Chịu mài mòn | Mòn cụt mũi |
Liềm: mỏng mà không gãy
Liềm là nông cụ đòi tay nghề cao nhất trong nhóm, vì lưỡi rất mỏng mà cong. Thợ đập phôi dẹt ra thành dải dài, uốn cong theo khuôn quen tay, vuốt chuôi để tra cán gỗ ngắn.
Liềm răng
Nhiều vùng lúa dùng liềm có răng cưa nhỏ dọc lưỡi. Răng được tạo bằng cách đặt lưỡi liềm trên đe, dùng đục nhỏ đục xiên từng nhát, mỗi nhát nâng lên một răng. Răng nghiêng về phía chuôi, nên khi kéo liềm về phía người, răng móc vào thân lúa và cắt đứt, không trượt như lưỡi trơn. Đục răng xong mới trui, vì thép đã cứng thì không đục được nữa.
Liềm răng không cần mài thường xuyên như liềm trơn. Khi răng mòn, người ta mang ra lò đục lại răng, trui lại. Người mua nên xem răng đều, cùng nghiêng một chiều, không răng nào gãy.
Trui liềm
Lưỡi liềm mỏng nên trui nước rất dễ cong vênh hay nứt. Thợ thường nung đều cả lưỡi tới đỏ anh đào rồi nhúng nhanh, thẳng; có lò dùng dầu cho liềm mỏng. Sau đó ram ở nhiệt thấp, màu vàng rơm tới nâu, để lưỡi giữ được răng.
Cuốc: chỗ khó nằm ở họng
Cuốc chịu lực nặng nhất: mỗi nhát bổ là cả sức người dồn vào một điểm. Lưỡi phải cứng, nhưng chỗ yếu nhất của cuốc thường là họng, nơi tra cán. Họng được tạo bằng cách cuộn một phần thép thành ống hoặc đột lỗ trên khối thép dày. Họng mỏng một bên, mối hàn rèn không ngấu, hay thép bị đập khi đã nguội đều dẫn tới nứt họng sau vài mùa.
Xưa thép tốt hiếm, nhiều lò ốp một miếng thép carbon cao vào lưỡi cuốc, thân làm bằng sắt mềm, đập liền hai lớp ở nhiệt rất cao. Lưỡi trui cứng, thân mềm chịu va đập. Khi lưỡi mòn vẹt, thợ có thể "đắp lưỡi": hàn rèn thêm một miếng thép mới vào, trui lại. Ngày nay có máy hàn điện, nhiều lò đắp lưỡi bằng que hàn cứng.
Góc giữa bàn cuốc và cán khác nhau theo vùng và cách cuốc: cuốc xới đất ruộng, cuốc lên luống, cuốc nương đồi dốc đều có góc quen tay riêng. Người dùng lâu năm thường đặt thợ làm theo đúng góc mình quen.
Mai, thuổng, xẻng: chịu đạp chân
Mai và thuổng là công cụ đào đất thịt, vét mương của đồng bằng Bắc Bộ. Người dùng đạp chân lên vai lưỡi để ấn sâu, nên lưỡi phải đủ dày, đủ cứng để không oằn. Lưỡi mai dài, hơi thon; thuổng hẹp và dài hơn, để đào hố sâu, đào gốc cây.
Xẻng ngày nay phần lớn là hàng công nghiệp dập từ thép tấm, nhưng lò rèn vẫn nhận làm xẻng dày, sửa họng, đắp mép. Xẻng rèn thường nặng hơn nhưng bền hơn khi xúc đá, đất lẫn sỏi.
Lưỡi cày: gang đúc và thép rèn
Trong nông nghiệp cổ truyền, nhiều vùng dùng lưỡi cày bằng gang đúc, do lò đúc làm hàng loạt. Gang cứng, chịu mài mòn tốt nhưng giòn, gặp đá to có thể vỡ. Lò rèn làm hoặc sửa lưỡi cày bằng thép: dẻo hơn, ít vỡ, nhưng mòn nhanh hơn nếu không trui đủ cứng. Ở vùng núi, người H'Mông và nhiều dân tộc khác có truyền thống làm lưỡi cày, và lưỡi cày vẫn bày bán ở chợ phiên.
Lưỡi cày làm việc trong đất suốt nhiều giờ, mòn đều do cát, sỏi. Ở đây "cứng" quan trọng hơn "sắc": lưỡi cày không cần cắt ngọt như dao mà cần giữ hình dạng lâu nhất có thể.
Giữ nông cụ qua mùa
- Rửa sạch đất sau mỗi buổi: đất ẩm bám vào là nguồn gỉ chính, nhất là đất phèn, đất mặn.
- Phơi khô trước khi cất, cất nơi khô, không để nằm dưới đất.
- Thoa dầu mỏng lên phần thép trước khi cất qua mùa; dầu nhớt cũ hay dầu ăn cũ đều được, miễn mỏng.
- Kiểm tra cán: cán gỗ khô co lại, cuốc dễ tuột lưỡi. Ngâm nước cho cán nở, đóng thêm nêm, hoặc thay cán.
- Mài đúng: cuốc, mai mài bằng giũa hay đá thô, giữ góc lưỡi lớn; mài mỏng quá lưỡi sẽ quăn khi gặp sỏi.
- Đem ra lò khi cần: lưỡi mòn vẹt, răng liềm mòn, họng nứt nhỏ — lò rèn sửa được, thường bền hơn bỏ đi mua mới loại kém.
An toàn với nông cụ
Nông cụ sắc và nặng, lại hay dùng ở nơi có đất, bùn, nên vết thương dễ bẩn:
- Không để cuốc, liềm, cào ngửa lưỡi lên ở lối đi; dẫm phải cào ngửa là tai nạn kinh điển.
- Cầm liềm cắt về phía mình nhưng tay giữ lúa, cỏ luôn ở phía trên đường đi của lưỡi.
- Kiểm tra lưỡi cuốc chặt cán trước khi bổ; lưỡi bay khỏi cán rất nguy hiểm cho người đứng gần.
- Trẻ em không cầm liềm, cuốc khi không có người lớn hướng dẫn kề bên.
Vết thương do nông cụ dính đất, gỉ: rửa sạch bằng nước sạch, ép cầm máu, rồi đi khám để được bác sĩ tư vấn chuyện phòng uốn ván. Vết thương sâu, chảy máu nhiều, đứt gân thì gọi 115.
Nếu đến lò rèn sửa nông cụ, nhớ rằng thép vừa rời lò hết đỏ vẫn còn rất nóng; không cầm thử khi thợ chưa đưa. Lò than trong lán kín sinh khí CO; xưởng phải thông thoáng.
Góc nhìn hôm nay
Máy gặt và máy xới đã thay phần lớn liềm và cuốc ở đồng bằng, nhưng ở vườn nhà, ruộng bậc thang, nương đồi và những mảnh đất máy không vào được, nông cụ rèn vẫn sống. Một bộ nông cụ tốt dùng được nhiều năm nếu được giữ khô và sửa đúng lúc. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và nhiều bảo tàng tỉnh có trưng bày nông cụ cổ truyền; nhìn chúng cạnh nhau sẽ thấy rõ mỗi vùng đất đòi một dáng cuốc, một dáng liềm khác nhau.
Câu hỏi thường gặp
Liềm răng cưa làm thế nào?
Thợ đặt lưỡi liềm trên đe, dùng đục nhỏ đục xiên từng nhát để nâng lên từng răng, răng nghiêng về phía chuôi. Đục xong mới trui cho cứng, vì thép đã cứng thì không đục được nữa.
Vì sao cuốc hay nứt ở họng?
Họng là chỗ tra cán, chịu lực xoắn và va đập lớn. Họng mỏng không đều, mối hàn rèn không ngấu hoặc thép bị đập khi đã nguội đều để lại vết nứt nhỏ, lâu dần nứt to. Lò rèn có thể sửa nếu phát hiện sớm.
Lưỡi cày làm bằng gì?
Nông nghiệp cổ truyền ở nhiều vùng dùng lưỡi cày gang đúc, cứng và chịu mòn nhưng giòn. Lò rèn làm lưỡi cày bằng thép, dẻo hơn và ít vỡ khi gặp đá. Vùng núi phía Bắc vẫn còn bán lưỡi cày rèn ở chợ phiên.
Giữ nông cụ không bị gỉ thế nào?
Rửa sạch đất sau khi dùng, phơi khô, cất nơi khô ráo, không để nằm dưới đất. Trước khi cất qua mùa thoa một lớp dầu mỏng lên phần thép. Đất ẩm bám lại là nguyên nhân gỉ chính.
Bị nông cụ gỉ làm đứt tay thì làm gì?
Rửa sạch vết thương bằng nước sạch, ép cầm máu bằng gạc sạch, rồi đi khám để bác sĩ tư vấn phòng uốn ván. Vết thương sâu, chảy máu không cầm hay đứt gân thì gọi 115.